Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015

CÁ MÒM, CÁ CƠM VÀM NAO

Thời tiết Nam bộ chia hai mùa rõ rệt: nắng và mưa. Riêng vùng đầu nguồn sông Cửu Long, mùa nắng gọi mùa khô hay mùa cạn; mùa mưa gọi mùa nước, nói đủ là “mùa nước nổi”.

Đánh bắt cá mờm, cá cơm phải dùng “lưới cước” (mắt lưới rất nhỏ) nên khâu kéo lưới rất nặng nhọc, tất nhiên phải ngâm mình cả ngày dưới nước, nhưng vì kế sinh nhai nên cánh phụ nữ cũng tích cực tham gia, và ... ai cũng “quên lạnh”!



Cá mờm và cá cơm được ướp đá lạnh ngay khi đưa lên xuồng lưới, nhờ vậy cá đến tay người tiêu dùng vẫn tươi ngon
Cá mờm và cá cơm được ướp đá lạnh ngay khi đưa lên xuồng lưới, nhờ vậy cá đến tay người tiêu dùng vẫn tươi ngon.
Bình quân một mẻ lưới được khoảng 3,4 kg cá cơm
Bình quân một mẻ lưới được khoảng 3,4 kg cá cơm.

























Giao mùa bắt đầu từ tháng Năm âm lịch, nước bắt đầu “quay”, tức dòng chảy các sông Tiền Giang và Hậu Giang không xuôi một chiều theo những con nước lớn, nước ròng như bình thường mà vào thời điểm này nước từ thượng nguồn đổ xuống ngày càng nhiều, không thoát hết ra biển được nên phải dội lại, lựng bựng, gọi “nước quay kỳ nhứt”. 

Khi “nước quay kỳ nhì” thì nước từ từ tràn lên đồng, nhiều nơi ngập đường, ngập chợ (những chỗ không có đê bao), gọi “mùa nước nổi” – nước dâng từ từ, mỗi ngày đêm chỉ trên dưới 10 đến 15cm, do đó cư dân không gọi là mùa lũ. 




Mùa nước nổi diễn ra từ tháng Sáu đến hết tháng Mười âm lịch. Tại thời điểm này sông rạch toàn vùng rất nhiều tôm cá, nhất là cá linh. Còn mùa khô (nước giựt cạn) sông Vàm Nao xuất hiện vô số cá trắng, nhiều nhất là cá mờm, cá cơm.

Cá cơm sông là loại cá có thân mình trắng trong, phần bụng trắng đục như hạt cơm, dài chừng 3cm, chỉ có vào mùa nước cạn. Tuy nhiên, trước đó khoảng 20 ngày, người ta đã thấy nó xuất hiện, lúc này chúng hãy còn rất nhỏ, chỉ to hơn cây tăm một chút, dân gian không gọi nó là cá cơm mà gọi cá mờm.


Ngư dân đánh bắt chúng trên các sông lớn như sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao… vì loại cá này không vào kinh rạch. Như tên gọi, ngư dân đánh bắt cá cơm bằng nhiều loại lưới. 

Nếu là “lưới giũ” thì khi kéo lưới lên, người ta chỉ giũ nhẹ thì sẽ lấy được cá, còn “lưới gỡ” tất nhiên phải gỡ từng con, tuy cực nhưng dính toàn “cá lựa”, tức cá lớn một cỡ - có cả cá lòng tong đá và cá mồng gà (cá mồng gà nhiều xương nhỏ nên ít ai kho mà chỉ làm chả. Chả cá mồng gà rất dai và ngon hơn chả cá thác lác nhiều). Chung nhất là lưới dày, thậm chí rất dày, gọi “lưới cước”.

Cá cơm sống ở tầng nước mặt nên ngư dân không dùng lưới sâu dạo, chỉ cần dài, càng dài càng bắt được nhiều cá, do đó phạm vi bao chiếm của lưới khá rộng. Tất nhiên muốn đánh bắt nó phải chờ con nước ròng, mới “trúng”. Mùa cá cơm chỉ diễn ra trong vài tháng, do thế bà con tranh thủ thả lưới cả ban đêm. 

Theo Nguyễn Huữ Hiệp- Dân Việt

CÁC KIỂU BẮT CÁ MIỀN TÂY

Nguồn Hai Miệt Vườn- Dân Việt: Người dân chỉ việc mang lộp, nò, lờ, nôm, … bắt về con to để ăn, con nhỏ mang thả vào vuông, đìa quanh nhà để nuôi làm nguồn dự trữ. Thế là, nhà nào nhà đó đỏ lửa kho, nấu, chiên… thơm nức cả vùng.
Miền Tây Nam Bộ có diện tích mặt nước trên đồng ruộng, diện tích mặt nước trên sông, rạch, ao, hồ, vuông, xẻo… khá cao. Kinh rạch chằng chịt không chỉ là hệ thống giao thông huyết mạch đường thủy nối liền tỉnh đến huyện, huyện về xã mà còn tỏa đi các ấp, địa bàn dân cư và trong lòng nó chính là nơi cung cấp nguồn lợi thủy sản như: cá, tôm, cua, … vùng nước ngọt, nước lợ và nhiễm mặn. 

Đây là nguồn thực phẩm tự nhiên, sạch an toàn và ngon. Thủy sản ở miền Tây sinh sống ở ba vùng nước: nước ngọt, nước lợ và nước mặn cho nên có hàng trăm loại cá và hàng chục loại tôm, cua, ếch, nhái…
Chiều giăng lưới

Mùa nào, cá, tôm, cua, mùa nấy. Mùa mưa thì ếch nhái, cá lóc, cá rô mề, cá trê vàng, … mùa khô thì cá sặc, tôm, cua, tép, … Riêng cá bống tượng, bống trứng… và vộp, ốc, lươn, rùa, trăn, rắn … thì mùa nào cũng có. 

Nước lên mang theo tôm, cá,… vào đồng, nước tràn đầy cá cua thi nhau vào đẻ con sinh cháu. Sau đó nước đồng lại cạn tôm, cá trở ra sông …và cứ theo chu kỳ xoay vòng như thế. Người dân chỉ việc mang lộp, nò, lờ, nôm, … bắt về con to để ăn, con nhỏ mang thả vào vuông, đìa quanh nhà để nuôi làm nguồn dự trữ. Thế là, nhà nào nhà đó đỏ lửa kho, nấu, chiên, luộc… hương thơm ngào ngạt cả vùng.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ sưu tầm và giới thiệu các vật dụng dùng để bắt các loại thủy hải sản miệt đồng, nó gắn liền với những người dân quê sống ven kênh rạch mà thôi. Phần dụng cụ đánh bắt thủy hải sản biển sẽ được đề cập đến ở một dịp khác.

Bắt bằng tay không

Bắt ếch, bắt nhái: Cuối tháng Ba, đầu tháng Tư âm lịch khi những trận mưa đầu mùa đổ xuống ếch nhái kêu ran ngoài đồng trống, thế là chạng vạng tối tay cầm lồng đèn chong cóc đốt bằng dầu lửa, tay cầm cái bao, cái rộng (làm bằng tre) ra đồng soi nhái. Ếch nhái gặp mưa, chúng kêu vang để “hò hẹn” bạn tình. 

Gặp phải ánh đèn nó đành nằm yên chịu trận! Người đi bắt cứ thế lượm bỏ vào bao! Gặp phải ếch nhái “bắt cặp” chộp một tay được liền những hai con! Cứ thế bỏ vào bao mang về! Có khi đi bắt nhái cũng gặp rắn nước, rắn hổ (loài rắn cực độc) sẵn cây, chĩa trong tay họ sẵn sàng hạ “con vật nguy hiểm” kia luôn, một công đôi ba nguồn lợi là vậy!

Bắt cá.
Lượm ốc, bắt cua đồng, mò cá: Ốc gạo trên đồng không ngập nước, ven bờ mương vườn nhiều vô kể, thế là họ cứ thản nhiên cầm thau, cầm rổ đi lượm về cải thiện bữa ăn. Ốc có thể luộc với lá ổi, chấm với cơm mẻ, trẻ con thì bỏ vô lò than hồng nướng vì ốc nướng ăn ngọt và thơm hơn.

Cua đồng rất có hại cho lúa, nên khi gặp người ta có thể bắt bỏ! Không bỏ thì mang về rang, nướng ăn chơi cho vui miệng. 

Lượm ốc, lượm cua chỉ bằng tay không là đủ không cần thêm một vật dụng nào khác, trừ cái vật để đựng chúng!

Mò cá: khi nước dưới sông, dưới rạch cạn lòi bãi, người ta lội xuống dùng tay mò cặp mé lá dừa nước, trong các bụp bè (thân cây lá dừa nước – loại lá mọc rất nhiều ở miệt này, dùng để lợp nhà!) thường nhất là cá thác lác, cá trê, tôm càng xanh, … ẩn thân chờ nước lớn, người ta cứ thế tóm lấy cho vào “rộng”. 

Bắt cá lên, cá cạn: Cá lên đồng khi những trận mưa lớn đầu mùa đổ xuống. Theo quán tính tự nhiên, cá rô, cá lóc … lên ruộng để sinh con, đẻ cháu. Con người biết được phản xạ này của cá. 

Thế là ngay khi cơn mưa đang ập xuống, người ta ra động, lựa chỗ bờ đập, rãnh mương, đường nước dẫn lên đồng, cá mẹ, cá cha lũ lượt vượt bờ đất rộng để tìm nơi có nước! Thế là chúng trở thành mồi ngon cho con người miệt đất này.

Khi đồng ruộng bắt đầu cạn nước, gió chướng thổi mạnh những mưa cuối cùng đã dứt, lúc này khoảng tháng 10, tháng 11, (ngày trước canh tác mỗi năm chỉ một vụ, chủ yếu là dùng nước mưa trời, chứ không dùng máy bơm, lưu nước quanh năm trên đồng như hiện nay) cá bắt đầu tìm đường xuống. 

Người ta có thể đào các rãnh dẫn chúng vào các đìa nước nằm giáp giữa vườn và ruộng, có thể làm hầm để cho cá nhảy vào. Và cuối cùng là những con cá non, cá nhỏ bị kẹt lại, cứ thế, người ta dùng tay mò dưới các đường nước sâu (bây giờ đã sền sệt bùn) mà tóm lấy chúng. Mùi bùn thấm đượm hương vị quê nhà là ở đấy!

Đào hầm: Hầm là một khoảng đất được khoét rộng, giữa các bờ mẫu (bờ ranh giữa các thửa ruộng). Cá sẽ tìm đường “xuống” chúng nhảy từ ruộng nước cạn, sang ruộng nước sâu hơn, thế là rơi vào hầm. Cá lóc, cá rô, lúc nhúc trong ấy, chờ đến sáng, “chủ hầm” đến bắt về!

2. Bắt bằng cách dụng cụ tự chế

Rổ, sà nel xúc tép, chạy cù: Tép ở đây là loại tép trấu (có nơi gọi là tép mồng, tép càng, tép đất), thường trú ngụ ở dưới rễ ô rô, nơi lá mái dầm mọc nhiều ven sông, rạch. Khi trái gió trở mùa, không tìm được thức ăn, người ta xuống sông, mang theo rổ lớn (gọi là rổ xúc) hoặc sà nel (loại nông cụ của đồng bào Khmer đươn bằng trúc) để xúc tép. Tép xúc được mang về lặt sạch râu, sạch càng rồi rang muối, kho mặn hoặc sang hơn thì lăn bột chiên ăn với rau rừng và nước mắm đồng dầm bần, hay chùm giuộc cho xong bữa!
Sà nel - dụng cụ bắt cá của người Khơ me
Chạy cù xúc cá bãi trầu, lòng tong: Tương tự như xúc tép, nhưng cá bãi trầu, cá lòng tong, thường sống trên ao, đìa, cạn nước, hoặc các chùm năng, lát mọc dày nơi ruộng lung (ruộng sâu, nước ngập ngang bụng người). Người có kinh nghiệm chạy xoay vòng cho cá gom vào bụi cỏ, gốc năng, lát. Lúc ấy, họ nhanh tay xúc lấy. Cá bãi chầu (con to nhất cỡ ngón tay cái) cá sặc, cá lòng tong, hủn hỉn, … được mang về kho với nước cốt dừa, chấm rau choại, rau ráng luộc ăn với cơm.

Tát đìa: Như trên đã nói, khi trời bắt đầu trở chướng, cá trên đồng dợm rút xuống sông, thường được các bác nông dân “dẫn” vào đìa, vào mương vườn. Nơi ấy, nước sâu lại được chất chà kín đáo là nơi cư ngụ lý tưởng cho cá, tôm. Gần tết, người ta tổ chức tát đìa bắt cá. 

Đìa lớn thì ba bốn người dùng gàu đươn bằng lá dừa nước, hoặc bằng tre tát cạn. (Gàu có loại cho một người tát, có loại buộc dây dùng cho hai người tát, gọi là gàu vai). Đìa cạn nước, cá nằm phơi mình trên mặt đất bùn, người ta chỉ việc bắt cá bỏ vào thùng, vào rộng, … mang về. Sau đó, chủ chia cá cho những anh em để trả công người đến tát giúp mình.

Chất chà: Nơi lòng sông, con rạch, người có kinh nghiệm sẽ phán đoán được thuận dòng nước ở đâu cá sẽ trú ngụ nhiều. Thế là chà (cây có nhiều nhánh được đốn rồi phơi cho rụng hết lá) trâm bầu, hay gốc trúc, tre, … được đem chất thành đống dưới sông (nơi đã được chọn). Ở trên, người ta còn phủ thêm lá dừa nước, hoặc bỏ vào “đống chà” ít lục bình (bèo tây) để dụ cá “đến” ở. 

Thường chà được chất trước tết 5 – 7 tháng. Gần tết nguyên đán, người ta sẽ dở chà ăn tết! Ngày dở chà, trên dưới chục người dùng đăng (bện bằng sống cây dừa nước, phơi khô chẻ dẹp và vót sạch, dây bện cũng chính bằng dây bụp dừa - phần dưới của thân cây dừa nước, phần này thường ngập dưới nước, được xắn về chẻ nhỏ, phơi khôi làm dây buộc rất chắc!) bao quanh. 

Bao xong, người ta vào giữa đống chà vứt chà ra ngoài. Chà vứt hết, người ta dời đăng từ từ vào và dùng tay, vợt để thu sản phẩm. Những đống chà lớn, trúng vụ có khi lên cả mấy trăm ký cá, vài chục ký tôm là chuyện thường!

Đăng mương: Nhưng con lạch, con mương dẫn nước sông vào ruộng, vào vườn, thường có vàm tiếp giáp với sông, trên ngọn cạn và cùng (tức không còn đường nước đi nữa!). Sáng nước lớn, nước ngập mênh mông, người ta dùng cám rang rải khắp mặt nước để nhử cá vào. 

Sau đó dùng đăng (loại đăng dùng để dở chà như đã nói) đăng chặn ngang vàm mương. Nước ròng rút dần đến trưa, dòng mương, rạch ấy đã cạn. Người ta đắp đập ngang, tác khô nước mà bắt cá, tép. 

Đặt cá tép
Chĩa đâm rắn, lươn, cá: Để có “vũ khí” phòng thân khi ra đồng, ra vườn, người ta thường mang theo mình cây … chĩa. Chĩa có nhiều loại, có chĩa một mũi, chĩa hai, ba, bốn, năm mũi… 

Mũi chĩa là bằng thanh sắt nhỏ mài nhọn, trên uốn lại để tra vào cán trúc, cán tre. Đó là loại chĩa đâm cá, phóng ếch, hay hạ sát rắn, … Còn chĩa đâm lươn thì chỉ có hai nhạnh ngắn và bén. Người đi đâm lươn thường dùng chĩa xom xuống những nơi đất mềm, có rơm rạ thúi mục, môi trường mà lươn ưa thích sống. Đâm phải lươn, thì giữ chặt tay chĩa, dùng xà ben, dá, đào đất lên để bắt lấy.

Nơm: Nơm là vật dụng làm bằng các thanh tre vót nhẵn, đầu nhọn hướng xuống phần miệng. Trên túm lại cỡ bằng cái tô, dưới miệng lớn bằng miệng thúng nhỏ. Tính từ miệng lên khoảng độ tấc tay người ta dùng một niềng tre hoặc niềng sắt để cố định các thanh. Khi nôm, miệng nôm úp xuống nước. Những vũng nước nhỏ nghi có cá, người ta dùng nôm úp chúng để bắt.

Ống trúm: Là một ống tre già được thông mắt, mắt cuối cùng được chừa lại. Miệng trúm có hom, hom đươn bằng các thanh tre vót nhỏ, bện bằng dây lạt cà bắp (cây lá dừa nước non, chưa thành tàu lá), mồi nhử thường là cá, cua chết để hôi, đặt trúm nơi bưng biền lắm lát, nhiều sậy. Lươn thích ăn thịt cá chết, tìm đến chun vào trúm và kẹt luôn trong đó.

Câu: Thường làm bằng trúc, tre. Câu có nhiều loại, tùy theo từng loại cá, mồi và cách cắm cũng khác nhau. Xin giới thiệu một số loại câu thường gặp trong dân gian:

- Câu nhấp: Cần câu là một câu lục bình (họ cùng với tre, trúc) lớn, già và dài. Nhợ câu có đến 5 – 7 thước. Lưỡi câu dùng loại lưỡi lớn bằng inox. Mồi là nhái hoặc thằn lằn. Người câu quăng nhợ ra xa, rồi dùng sức kéo lưỡi lướt trên mặt đìa, ao. Cá lóc lớn, (có khi là ếch) thấy mồi “phóng lên” đớp. Thế là … mắc câu.

- Câu thọt: Nhỏ hơn câu nhấp một ít. Cần câu chỉ độ 2 – 3 thước. Nhợ câu cũng ngắn và lưỡi câu cũng nhỏ hơn. Cậu thọt thường được câu ở các hóc lá dừa nước, ven vàm kênh, rạch, chỗ nước lặng … Cách câu cũng tương tự như câu nhấp. Cá mà câu thọt hướng tới là cá lóc nhỏ, cá rô, … 

- Câu cá rô tôm tít: Cần câu là cây trúc nhỏ. Nhợ và lưỡi cũng rất nhỏ. Mồi câu là trứng kiến vàng(loại kiến có rất nhiều ở vùng lá dừa nước, lau sậy mọc chằng chịt này!). Người đi câu phải chịu khó đi thọt kiến vàng. Ổ kiến được chọt tung ra, bên dưới có rổ nhỏ để hứng trứng kiến. Khi lúa ngoài đồng mơn mởn xanh, cũng là lúc cá rô con (gọi là cá rô tom tít) đã biết ăn mồi. Mồi trứng kiến bỏ xuống, chúng thi nhau đớp. Hết bầy này, người đi cây tìm chỗ lúa trống câu tiếp bầy khác …

Câu cắm: Bờ mẫu ruộng còn được dùng để cắm câu. Câu cắm vót bằng tre, mỗi cần câu dài non thước tây. Lưỡi nhỏ tóm bằng nhợ dây chỉ, dây gân. Nếu cắm mồi trùn cơm (loại giun đất) trộn cám thường được cá rô, cá lóc. Cắm mồi nhái bén thì cá lóc hay ăn. Nếu cắm cá trê thì dùng mồi ong non hay trứng kiến. 

Cũng loại câu cắm nhưng không cắm trên đồng, trên bờ mương, ao vườn như cách cắm cá lóc, cá rô đã kể. Câu cắm dưới sông để tìm cá chốt, cá bống. Cần cầu dài độ 2 mét bằng trúc hoặc sậy. Nhợ và lưỡi câu buộc cách mặt đất chừng 3 – 4 tấc. Mồi câu là tép mồng, tép trấu. Câu cắm nơi nước chảy mạnh. Khi cá ăn, câu động, người ta cứ thế mà tóm kẻ tham mồi!

Câu kiều: Đây là loại câu thả. Cần câu là một đoạn tre, trúc, sậy ngắn chừng 5 – 7 tấc. Ở giữa có nhợ và lưỡi câu. Mồi thường là trùn, ốc. Thả câu kiều để bắt các loài ăn “mồi chìm” như cá trê, cá chốt hay lươn...

- Câu giăng: Khác với câu cắm, câu kiều dùng cần bằng cây tre, trúc, sậy. Câu giăng dùng một sợi dây chính để tóm nhiều nhợ và lưỡi vào đó. Câu giăng ven kênh, rạch, mồi thường là trùn, tép. Cá ăn câu giăng thường là các chốt, cá trê, cá bóng, … Có đều đặc biệt là cá sặc không bao giờ ăn câu, bởi miệng nó cấu tạo nhỏ không có lưỡi câu nào vừa để câu được chúng.

- Câu tôm: Tôm càng ăn mồi chìm, mồi là những miếng khoai mì xắt thành khúc. Miệng tôm không vừa lưỡi câu, nên khi tôm ăn, thấy nhợ động, người câu tôm nhẹ nhàng cho xuồng đến gần rồi bất ngờ dùng nôm ụp xuống, sau đó mò bắt chúng. 

Câu cua: Câu cua là một chiếc rổ đương bằng dây hoặc lưới. Mồi được để vào trong rồi thả cho chìm xuống đáy xuống (xung quanh rổ lưới, người ta buộc những cục gạch nhỏ tạo sức nặng). Trên mặt nước có miếng mốp để báo hiệu. Khi cua bén mồi lao vào, người ta thấy động, đến vớt câu lên. Cua mắc lưới không ra được và bị tóm gọn.

Sa vi: Đây là nông cụ rất đơn giản, được bện bằng dây cà bắp để bắt cá lóc. Vật bắt cá này chỉ to hơn cườm tay người lớn, nó chỉ được thắt như các mắc lưới. Điều độc đáo là người đặt sa vi phải có kinh nghiệm biết nơi nào có thể có cá lóc đi qua. Họ đặt, cá vào rồi thì không cách nào “quay đầu” lại mà ra được. Cứ thế, chủ tóm đem về!

Lộp: Lộp làm bằng tre. Lộp đặt ở mương vườn hay hóc lá. Lộp có hai cái hôm: trước và sau. Cá, rùa, cua, tôm vào nhưng không tìm được đường ra, vì bị hôm sau chặn đường, cứ thế chủ đến “đổ lộp” mang về! 

Lọp đặt cá

Nhưng nơi nước sâu, muốn bắt cá lớn, người ta dùng đăng ven để nhử cá vào. Lộp lớn làm có ống hơi để cá vào cá lên thể không bị chết ngạt. Lộp nặng không dỡ bằng tay nổi thì dùng cây và dây dừa quay lên, cách quay lộp như quay dây tời kéo pháo vậy!
: Thân hình ống, dựng đứng. Hom làm bằng tre chuốt dẹp. Ven đăng, đặt nò nơi có nước chảy, ben đêm đốt đèn để dụ cá, tép. Tép bạc, cá bóng là sản vật thu được từ nò.

Lờ: Lờ làm bằng ruột tre, cọng chuốt nhỏ. Lờ mảnh khảnh hơn lộp và nò nhiều lần vì lờ chỉ để đặt các loại cá nhỏ như cá sặc, cá chốt mà thôi. Có loại lời bốn hom (đặt các bốn phía) có loại lờ hai hom. Gặp phải lươn rằn chun vào thì sức lờ chịu không nổi!

Chài; Vó; Dớn; Đuôi chuột; Lưới, Sệp: Đây là những vật dụng đánh bắt bằng lưới. Cách cấu tạo mỗi loại có khác nhau, nhưng chủ yếu là để bắt cá dưới sông và khi khoa học đã phát triển. Chài được người vãi ra chụp lấy cá, tôm. 

Lưới thì giăng những nơi cá, rắn thường qua lại, vó có loại đặt cố định, có loại cất lên, đặt xuống; Đuôi chuột bện bằng lưới, ven đăng rồi đặt suốt ngày đêm; Sệp là lưới mắc vào hai thanh tre gác tréo rồi dùng sức người đẩy. Vó, lưới, đuôi chuột, sệp, đều sử dụng lưới ít nhiều đã không còn mang dấu ấn nguyên thủy dân gian như ngày xa xưa.

Các dụng cụ đánh bắt dân gian kể trên đều rất dễ kiếm, dễ làm, thậm chí là chỉ với hai bàn tay không, thức ăn vẫn đảm bảo, điều đó chứng minh cho sự giàu có, phong phú về cá tôm ở mảnh đất “lạ lùng, … con cá vùng cũng kinh” này.

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Khai bút đầu năm: TÂM THƯ CỦA CHỊ TIẾN

Đó là cái tên rất đẹp được gia đình thằng bạn học chung đặt cho nó. Cắt nghĩa đùi thì có lẽ là "thư tâm sự" "thư ngõ" hoặc tiểu thuyết hơn một chút thì gọi là "lời của trái tim". Nói chung tên nó rất đẹp, rất độc đáo, ít đụng, rất là tình cảm và sâu sắc. Thế nhưng hai năm trở lại tên nó tự nhiên thành hotname. 
Gây chú ý đầu tiên trong bối cảnh tài chính "từa lưa hột dưa" là "tâm thư" của cha Simon Morris- Techcombank "mong sự thông cảm và sẻ chia với ngân hàng" nhằm né thưởng tết cho nhân viên. Sau đó thì thôi thôi thôi là tâm thư, như được bầy cú trường phù thủy Hogwarts trong phim Harry Porter ào ạt tung ra. Từ những ngôi sao như MR Đàm, Họa mi Mỹ Tâm, Hồ Ngọc Hà gửi cho con trai, Hiền Thục gửi cho con gái...đến bình dân giản dị của học viên gửi giám đốc học viện CSND, học sinh cuối cấp 3 gửi tâm thư lên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, của người dân trước bệnh viện K3 gửi Thăng Bộ trường, tâm thư vợ gửi chồng, chồng gửi vợ...cả những vị đai đẳng đầy mình như GS Văn Như Cương...hay tột đỉnh quyền lực một quốc gia như Kim Ủn gửi cho các công tố viên. 
Ly kỳ và bay bổng (vì bu theo hào quang) nhất là tâm thư của Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm đồng gửi cho 12 nạn nhân bị sập hầm thủy điện qua cái ống "truyền dịch" hoặc của "Nhàm ngoại cỡ" sống "nhờ ngoại cảm" Bùi Hằng gửi cầu thủ Công Phượng ướt nhẹp, tèm lem nước mắt bắt quàng
Nói chung, phân loại sơ bộ thì có mấy loại tâm thư: Đa số than thở- xin xỏ, kế đến đánh bóng hoặc đu bóng, nhưng trơ trẽn nhất là ...bóp chẹt tiền nong. Thường thì loại nào ra loại đó. Cao lắm được 2 nét. 
Riêng Thư Chị Tiến vừa gửi bệnh nhân ung thư hôm nay thì " mười phân vẹn mười", có đủ ba tính chất lun: Than thở đất nước còn nghèo khổ, đu bóng bệnh nhân K vú nổi tiếng Khánh Thương và tuyên bố xiết cổ, bức tử bệnh nhân ung thư bằng cách đồng thuận hạ tỉ lệ chi trả. 

Răng lộn vai rứa Chị? Chị là bên CUNG CẤP DỊCH VỤ, làm ơn làm tốt khâu này, đừng lấn sân qua bênh thằng CHI TRẢ, đè NGƯỜI THỤ HƯỞNG như vậy. Phải chăng vì chị hay nhầm khái niệm như thế nên "Từ ngày có chị về, ...chát...chát ...chát ...bùm ...bum...ngành mình toàn tiếng chửi thề". Em lạy chị, xin đừng lợi dụng hay lạm dụng tên thằng bạn của em nữa. Trả lại tên nó giùm em đi!


Sài gòn ngày 03/01/2015
BS Từ Nhân Dân

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

Thư gửi các con!

Các con thân yêu!
Ba viết những dòng này khi các con còn rất nhỏ. Anh Hai mới hơn 4 tuổi đang học Trường Mầm non Hoa Sen, Anh ba thì hơn 2, còn chưa đi học.... Ba muốn nói về tên của các con và nguyện vọng của Ba Mẹ và gia đình dòng họ mình.

Anh hai ĐOÀN LÊ AN! Tên con là một sự biết ơn của ba đối với một người Thầy đã chỉ cho ba con đường phụng sự: Bác sĩ Gia đình. Đó là Thầy PHẠM LÊ AN. Họ chính gốc của mình là Phạm, không phải là Đoàn như ghi trong khai sinh của con. Cái họ đó có một lịch sử bi tráng mà ba đã kể một phần trong bài "Cái lò rèn của Nội". Tên con chính là tên của người Thầy ba hằng kính trọng, biết ơn và mong mỏi suốt đời đi theo con đường của Thầy. Thầy là một người Bác sĩ trăn trở tìm một lối đi cho ngành y của nước nhà. Đến bây giờ, Thầy đã hơn 15 năm để xây dựng và đào tạo chương trình đào tạo Bác sĩ Gia đình mà ba là học viên thứ 25, khóa thứ 6. Đây gần như là một duyên nghiệp mà ba nguyện suốt đời theo đuổi, dù có cô độc, chịu nhiều áp lực. Con là một đứa bé có tâm hồn, có óc quan sát rất tốt và trí nhớ cũng tuyệt vời. Con cũng có nhiều thay đổi, vượt qua được chính mình đường hoàng bước lên sân khấu, dõng dạc trước các bạn. Ba tự hào về điều đó của con. Ba mong con tiếp tục dẫn đầu như thế, can đảm như thế trong suốt cuộc đời mình con nhé!

Ba Vui ĐOÀN LÊ THẾ TÂM! Tên con cũng là của một người Thầy của Ông Nội, là sư thúc bá của Ba. Ông Nội đã đặt tên đó cho con với một niềm tự hào là một học trò của vị bác sĩ tài danh ĐOÀN THẾ TÂM. Ba chưa biết thiên hướng của con thế nào nhưng trông ra một người tự lập. Lá số tử vi của con nói rằng con sẽ sống xa lìa quê hương, cách xa những người thân và là một người tài hoa, được nhiều người yêu mến. Hoàn toàn ba không tin vào tử vi nhưng ba cũng mong con như thế. Con là một đứa trẻ thông minh, trí nhớ rất tốt, tuổi này mà đã học được nhiều bài hát dù không ai dạy cho con. Con cũng có tâm hồn nhạy cảm khi nắm bắt được mình sắp mất sự quan tâm của mẹ vì mẹ sắp có em. Điều này cũng tốt nhưng ba mong rằng con mạnh mẽ và dũng cảm hơn để có thể đối diện với cuộc sống nghiệt ngã mà cha con mình sinh ra không nhằm thời. Ba cũng mong rằng con và anh Hai có được một nên giáo dục phát triển hơn, có tính nhân văn hơn dìu dắt.

Điều ao ước của ba là cả hai con phải trở thành một Hướng đạo sinh và thực hiện điều đó thật sớm. Nó sẽ giúp các con những kỹ năng cơ bản để tồn tại cũng như tình tương thân tương ái giữa người với người của một Hướng đạo sinh. Có lý tưởng, có ước vọng nhưng không tham vọng, không mưu cầu, Chỉ có Đạo lý, Tổ quốc- Dân tộc, Gia đình và thân hữu đồng bào là những giá trị các con cần đạt tới. Ba cũng muốn các con hiểu về Thiền học, Phật học để có một cái tâm trong sáng, làm chủ đời mình đạt đến mức VÔ NGÃ, VÔ ƯU. Ba Mẹ quyết định chọn cho anh em con vào trường Mầm non Hoa Sen cũng vì điều đó,

Ba không hề hối tiếc phải sống cơ cực, không kiếm tiền bằng mọi cách. Hiện tại ba hài lòng về ngành của mình nhưng cũng cảm thấy có lỗi khi không có nhiều điều kiện để thực hiện những ước muốn nho nhỏ của con, của mẹ, của Ông Bà. Mong rằng lớn hơn con sẽ hiểu. Ba chấp nhận sống thanh đạm để giữ được nguyên tắc sống của mình: TRUNG THỰC và DẤN THÂN. Ba không mong rằng con sẽ nối bước ba làm bác sĩ nhưng con phải giữ cho được nguyên tắc đó dù phải trả giá, dù cho con đang làm nghề gì, ở vị trí xã hội nào. Điều này nó là một sự kiên đinh trong lập trường của một người hiểu về đạo lý, hiểu về TỨ ÂN HIẾU NGHĨA sống dõng dạc, hiên ngang.

Tên của các con có ý nghĩa lớn lao như vậy đó!

Hôn các con
Ba Trung

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Góc kỷ niệm tuổi thơ 5: CÁI LÒ RÈN NHÀ NỘI.

Hôm chở hai cậu thăm trại ngựa, ngang qua cái lò rèn, tò mò quay lại để tìm thử có cái dao phay hay dao yếm nào vừa tay mua về dùng. Thất vọng vô cùng. Cái lò rèn thời hiện đại có khác. Nào là mô tơ mài, nào là quạt máy thổi than, hàn khí đá, búa, kẹp, dũa...cái gì cũng khác quắt so với Lò rèn nhà Nội khi xưa. Họ làm nhàn hạ và không tốn nhiều công sức. Không biết phải do những điều đó mà cầm cái dao lên mình...muốn liệng trở lại vô lò.
Cái lò rèn của Nội, trong ký ức mình là một sự đoàn kết và gắn bó của ba gia đình đời Ông Nội. Thợ cả là Ông Ba Chuột, hai thợ chánh là Ông Nội và Ông Mười Kèn, và một dàn thợ phụ là con trai của ba gia đình. Mỗi người một việc, răm rắp đâu vào đấy. Ông Ba là bậc thầy về trui, rèn, lựa thép, hoàn tất sản phẩm. Mấy bác, mấy chú là cỗ máy quay búa lực lưỡng còn hơn máy nén, máy dập. Tất cả đều làm bằng tay và máy cơ chạy... bằng cơm, công suất "10 mã lực" của Chú Tư Chẳng, Chú Sáu Đoàn, Bác Sáu Nhái, Chú Tuấn, Chú Cường.
Lửa than được duy trì bằng cách kéo hai bể thổi bằng gỗ, cao gần 2 mét, với hai cái bít tông vải đường kính khoảng 25 cm. Ống bể được nối sang lò bằng hai ống tự làm bằng bùn móc dưới bến sông trộn vỏ trấu, ép thành ống rồi phơi khô. Gió từ hai ống gỗ này thổi ra sang lò nghe "hù hù" như bão. Thường thì Chú Tám hay phụ trách khâu này nhất vì lúc đó còn nhỏ, không quai nổi búa.
Đã mắt nhất là cảnh quay búa phối hợp giữa 3 hay 4 người nện lên một mặt đe chừng 15 phân, vào điểm được thợ cả đệm búa con chỉ trên miếng sắt. Đây là khâu quan trọng nhất quyết định hình hài cơ bản và độ bén (non hay già) của vật dụng tùy theo ngọn lửa lò, thời điểm trui và độ nén vật liệu. Tất cả đều làm trong thinh lặng, tập trung, nhịp nhàng và chính xác. Búa nặng (từ 10-15 kg), các chú bác phải đứng tấn chữ đinh, kéo búa về sau, vòng lên đầu rồi giáng xuống, rút búa về... liên tục chu trình vậy.chùng 20-30 vòng. Đến nghe tiếng "Hự" của Ông Ba thì mới được dùng lại, lau mồ hôi. Từ một cục sắt hay thép chẳng ra hình thù gì, không mẫu, không thước đo, Ông Ba hết đút vào lò, để lên đe, nện búa, ngâm vào bể trui, lật ngắm ngắm, đút vào lọ, chặt bớt cạnh...một lát sau, miếng sắt đã thành hình khá rõ về vật dụng muốn làm, cái nào cũng giống như cái nấy nhưng thật sự là các tác phẩm độc bản.
Tới đây,miếng sắt sẽ được làm nguôi (không đút vô lủa nữa) và hoàn thiện. Khúc này mất nhiều thời gian và sự tỉ mẩn. Công cụ được một trong hai người thợ chánh gò lại cho đẹp để người kia bào lưỡi. Gò thì "dễ hơn" nên được giao cho Ông Mười, bào lưỡi phải dùng sức và sự chuẩn xác nhiều hơn. Phần này thường là Ông Nội làm. Công cụ được Nội kẹp chặt vào "chân ngựa", dùng một cái bào bằng thép "chiến đấu" để bào thành cạnh bén của công cụ bằng sắt hay thép(!). Từng sợi thép bị gọt, cuộn lên như dăm bào gỗ và công cụ cũng rõ nét dưới bàn tay của Nội. Cuối cùng là mài bén và tra khâu, cán.
Mài dao hay các công cụ không dễ chút nào dù trông có vẻ nhàn hạ. Nó đòi hỏi bàn tay cảm nhận mặt đá mài ăn lên công cụ, cảm giác ngón tay vuốt ngang để tìm chỗ "cuốn mép" mà mài cho "đứt mép". Vụ này Chú Tu Chẳng là nghề nhất. Chú Sáu Đoàn (biệt danh là Sáu Tài Tộ- Tay tổ) thì hay bị Ông Ba la hoài vì "cái thằng vụt chạc". Chú Tám, Chú Tuấn, Chú Cường hay Bác Sáu thì thường gọt cán, cắt khâu (vòng trên cổ dao, liềm, hái ...chống vỡ cán, tụt dao). Công đoạn này nhiều khi các chú bác cũng sáng tạo nhiều kiểu cán đẹp, lạ mắt, mang dấu ấn riêng. Nhưng sáng tạo gì thì cũng phải cầm vừa và êm tay.
Sau này lớn lên, đọc mấy bài viết về cách rèn kiếm của Nhật, mình thấy các Ông, các Chú Bác nhà mình làm cũng nhiêu khê không thua gì họ (!). Tỷ như "cắt" lưỡi hái, hay liềm. Đầu tiên là cái hái được làm giống cái dao cong đúng dạng thế, trui đúng nước (thép). Tùy theo người cắt thuận tay nào thì một mặt sẽ được cắt khía, mặt kia để lại. Ông Nội thường gò lưng, dùng dũa để cắt. Các đường cắt phải đều nhau, xéo một góc so với lưỡi tùy theo kinh nghiệm của Nội, độ sâu và độ dài đường cắt cũng phải bằng nhau và chỉ với bằng 1 cái dũa đuôi sam. Cắt xong thì chỉ cần mài mặt bên kia, răng lưỡi hái sẽ hiện ra dều tăm táp. Hay mài một cái phảng có khi mất nguyên 1 ngày. Ác cái là phải mài từ từ, không được miết mạnh bất kỳ đoạn nào trên lưỡi phảng vì như vậy sẽ làm lưỡi phảng bị lõm vô. Hai cánh tay người mài phải dang ra và "ru" cái phảng liên tục trên mặt đá mài cho đến khi được thợ cả kiểm tra ưng bụng.
Thời đó, thường nhất là làm dao phay, chét, mác vót, mác thông, dao dâu, dao yếm, dao bằng, phảng, lưỡi hái, cù nèo, búa kinh củi, búa đẽo...thỉnh thoảng cũng có bừa cào, đòn xóc, lưỡi cưa cá mập.. Phảng thì Ông Ba chuyên trị. Tay nào phát thế giỏi trong vùng đều nhờ chính tay Ông Ba rèn mới chịu. Ông Nội thì "cắt" lưỡi hái siêu đẳng, đến cánh thợ gặt vùng Thối Nốt, Cờ đỏ, Miệt Thứ cũng sang đặt làm. Ông Mười thì dao các loại với búa đẽo. Chú Sáu và Chú Tám thì hay lượm thép vụn làm dao gọt trái cây, dao cắt chỉ lưới làm đáy, dao bổ cau...bá cháy. Chú Sáu Tài tộ còn lén Ong Nội làm một con dao găm bén ngót mà sau này chuyền qua làm cá, chú cũng còn mang theo phòng đám cướp Chòm Xoài.
Năm 76, Ông Nội mất vì tai biến khi mới 49 tuổi, lò rèn vẫn duy trì hoạt động tiếp tục thêm gần 3 năm nữa vẫn dưới sự chỉ huy của Ông Ba. Sau đó, Ông Ba và Ông Mười về nhà lập lò rèn riêng. Sau này chỉ còn Chú Tuấn và Bác Sáu Nhái giữ nghề. Hai cái ống bể, nghe đâu chú Tuấn giữ nhưng không biết còn mất. Tới giàn cháu thì không đứa nào còn nhớ tới cái lò rèn vì bọn nó còn quá nhỏ, thậm chí có đứa chưa ra đời. Không còn đứa nào phải lấm lem than bụi, nhể nhại mồ hôi mà được ăn trắng, mặc trơn, học hành đầy đủ.
Lò rèn không còn đỏ lửa, Các Chú bỏ nghề nhưng mỗi người đều còn mang dấu ấn của thời làm rèn thuở trước. Ông nào cũng mạnh khỏe như trâu nhờ rèn thể lực bằng búa tạ hàng chục năm. Chú Tư phiêu bạt làm lái khoai, bắp tận Sài Gòn vói biệt danh Tư Trời biển lẫy lừng Xóm củi. Chú Sáu chuyển làm đáy. Sức ông này vặn cái là vỡ toát hoáci cái ghế đôn bằng gõ đỏ. Chú Tám Thâm thì chắc đậm, học được nhiều nhất các tuyệt kỹ của Ông Ba Trần Văn Bá nhưng chưa bao giờ lớn tiếng với ai. Chú Tám giống Ông Nội nhiều nhất ở chỗ tính tình nhân hậu, hiền hòa. Lẫy lừng nhất là Chú Cường Sên, hậu vệ đội bóng làng dám cho Lưu Kim Hoàng (Thủ môn đôi Cảng Sài Gòn vang bóng thời Tư Lê, Cù Sinh, Cù Hè) ra ngã ba lượm banh vì chú sút phát, trái banh xé rách lưới, bay tuốt ra tới lộ.
Còn nhiều giai thoại đã được kể và nhiều điều nhân nghĩa được dạy quanh ánh lửa của Lò rèn này. Cái Lò rèn đó là nghề truyền thống của gia đình, là sinh kế của ba anh em ruột không mang cùng họ (?). Nó cũng là nơi cho con cháu biết thế hệ những người đi trước đấu tranh tồn vong trong thời chiến loạn như thế nào, y như bếp lửa trong nhà rông của đồng bào miền Thượng. Ba anh em đó giờ đã cùng nằm cạnh nhau, gắn bó như thủa đành đoạn ly hương vì lý tưởng sống hòa thuận, hữu hảo chán ghét chiến tranh của mình. Họ đã về lại cố hương nhưng con cháu vẫn còn ở lại quê hương thứ hai, nơi có CÁI LÒ RÈN mang nhiều giai thoại đó.
BS Từ Nhân Dân

Góc kỷ niệm tuổi thơ 4: BÀ TÁM TƯƠNG

Đó là bí danh của Nội mình từ trước giải phóng. Cái tên đó giờ đám trẻ dưới 40 không còn mấy người nhớ nhưng nhiều gia đình lại nhớ rất rõ.
Chẳng biết từ bao giờ, Bà Nội đã làm cái nghề này. Bà đi bơi xuồng gần 30 cây số sang Chùa Phước Huệ tận miệt Sa Đéc để "múc tương" về bán lại trong làng. Nghe Chú Tám kể lại, đó là công việc Nội làm để che mắt cho việc làm giao liên cho "mấy ổng". Chẳng biết thế nào mà sau giải phóng chẳng có con ma nào hay một giấy tờ gì để ghi nhận. Chắc Chú Tám thấy thương Nội mình nên "thần thoại" câu chuyện này. Mà cũng có thể là đúng nhưng đám đó làm quan lớn hết nên quên rồi.
Nội có một cái sạp bằng gỗ nhỏ do Ông Nội đóng để bà ngồi bán cho cao ráo, hợp vệ sinh. Sáng sáng, Bà chất mọi vật dụng lên xuồng, bơi qua chợ rồi chất hàng lên chỗ bán. Nội bày lên quanh mình từng "việm", từng thố, từng hũ tương chao các loại. Nào là tương hột, tương xay, tương nước, tương kẹo (hắc xì dầu), chao mới, chao cũ, chao"thúi"...Tôi nhớ nhất cảnh Nội ngồi chễm chệ trên thùng tiền, tay nhoai nhoáy múc tương bỏ vào lá môn hay lá sen rồi túm lại buột bằng dây lát.
Tương xay của Nội làm phải nói là đặc sản. Đó là thứ tương hột nguyên thủy Nội đem vào một chiếc cối đá lớn xay nhuyễn, nêm đường ớt đỏ, ớt xanh, nó mằn mặn, bùi bùi, cay cay, ngòn ngọt và ...thơm nức mũi. Ăn trực tiếp như chấm với rau luộc, rau sống, hay dùng để ướp chế biến đều ok hết. Và tương hột của Nội cũng khác bây giờ. Họt tương nở ra cỡ đầu ngón tay út, bùi và béo. Đem tương này mà xào hành lá với ít tóp mỡ heo rồi rưới lên cá linh hay cá mè vinh chiên giòn thì chỉ có nước ...lùa cơm mỏi tay.
Nội bán đắt hàng lắm. Có thể ở thế độc quyền một chợ, cũng có thể vì tương chao Chùa Phước Huệ ngon nổi tiếng vùng mình. Mà cũng có thể nhờ tay miệng mau mắn vui vẻ của Bà. Bà vừa múc tương, vừa hỏi thăm gia cảnh, đôi khi gói lại rồi mà còn giở ra thêm vô một ít để "ăn cho đủ". Nhiều người hay nói "Bà Tám bán kiểu này riết...cụt vốn quá!" Bà cứ cười hì hì.
Tánh Nội hay vì người khác còn hơn lo cho con cháu trong nhà như vậy. Cả cái làng Lai Vung bên phía Rạch Bà Nhan đến Tân Phước thời trước nhiều nhà có con cháu đều nhờ một tay Bà đỡ đẻ. Không biết bà đã học nghề này từ đâu nhưng hàng trăm trường hợp, kể cả ngôi ngược (Ngôi mông) như Bé Hồng con chú Ba Nhì vẫn mẹ tròn con vuông, không xảy ra tai biến gì. Bà Nội nói nhờ phưỡc Ông Bà. Mình thì lại nghĩ chắc là nhờ cái Tâm của Bà tốt, không lấy tiền bất kỳ của ai, nửa đêm nửa hôm kêu giờ nào Bà cũng đi bất kể mưa gió.
Nội đã nghỉ bán 20 năm có lẻ nhưng cũng từng ấy năm, tôi chưa ăn được một keo chao hay lọ tương hoặc chai nước tương nào "cho ra hồn" từ ngày lên Sài Gòn đến giờ. Không ăn được vì nó "dở ẹt" thua xa tương của Nội bán ngày xưa (và cũng không dám ăn vì sợ chết sớm do hóa chất Tàu.)
Đợt rồi có về Chùa Phước Huệ thỉnh mấy keo chao tặng mấy người bà con. Miếng chao giờ cắt vuông đều hơn, keo lọ giờ cũng khác xưa với nhiều diêm dúa hoa lá cành. Cầm lọ chao trong tay mà mình nghĩ không biết Nội có biết Bà đã từng là một bà mụ vườn, Bà Tám Tương lại làm nhiều người khó quên con người đã từng bán thứ tương chao trong có vẻ dân dã và sống hết lòng vì chòm xóm như Nội mình không?
Nhiều người nói tánh Bà "bao đồng" nhưng mình lại thấy khác. Mình rất tự hào về cái bao đồng của Nội. Và cũng có thể mình bị nhiễm cái tánh bao đồng này tự thuở nào từ Bà Nội mình, từ BÀ TÁM TƯƠNG đó!
BS Từ Nhân Dân.

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Góc kỷ niệm tuổi thơ 3: THẦY BA HỌC

Chiều nay chạy kiếm quà quê đi đám giỗ, ghé qua tiệm nem Cô Hoàn trên đường Hồng Bàng, đối diện Bệnh viện Hùng Vương. Chỗ này là nem Lai Vung chính hiệu, theo mình nó ngon hơn cả nem Giáo Thơ, ăn ghiền. Cứ tưởng gặp mấy đứa nhỏ dưới quê, ai dè gặp lại Thầy Ba Học. Thật là mừng vì Thầy gần 80 mà vẫn còn "ngon lành" đi đứng vững trân, gặp mình là nhận ra ngay "Con thằng Ba Ngọc!".
Đúng ra mình phải gọi Thầy là SƯ TỔ vì Thầy dạy cả ba mình. Nói tới tên Thầy, hầu hết đứa nào 40 trở lên ở Lai Vung cũng biết vì hồi đó Thầy nổi tiếng là nghiêm khắc với học trò. Mấy anh lớn lớp chín quậy cỡ nào, phá làng phá xóm ra sao Thầy cũng biết và gọt đầu không còn cọng tóc, đứng trước Thầy mà run hơn cầy sấy.
Những năm đầu thập niên 80 mà Thầy tổ chức được chương trình tập thể dục buổi sáng cho đám học trò từ lớp 5 trở lên trên địa bàn khắp mấy xã. Từ Lai Vung xuống Cái Sơn, lên Cái Đôi, vào Tắc Cây Me, giáp đến Kinh Cụt, Tân Phước. Sáng sáng, tiếng tu huýt của thầy nổi lên gần xóm nhà Thầy Thơ (Giáo Thơ- Ông Trùm nem của Lai Vung). Lần lượt đầu trên xóm dưới cũng rộn ràng tiếng í ới của đám học trò gọi nhau đi tập thể dục. Thầy biết hết từng đứa, con nhà ai, ở khúc nào và Thầy phân ra thành từng tổ, mỗi tổ có tổ trưởng chịu trách nhiệm, Sáng nào Thầy cũng cỡi chiếc xe 'đòn dông", cây roi cày giắt sau yên, vung vẩy như chiếc đuôi ...chó Phú Quốc chạy giáp vòng các nơi để kiểm tra. 5 giờ trở lên mà chưa tập họp xong tổ mình thì liệu thần hồn.
Tập thể dục mùa hè thì chẳng sao, mùa gió bấc lạnh thấu xương mà chui khỏi mền thì thật là một cực hình. Lạnh gì thì cũng phải tới giờ chui ra. Tập xong, chạy truyền lao đến tổ kế đó rồi quay về thì cả tổ gom lại đốt un cho ấm chờ Thầy "duyệt' xong mới được về nhà. Không thì thế nào ba má đứa vắng mặt cũng được Thầy kêu cửa hỏi thăm sao sáng đó không đi tập?
Ờ, con nhỏ Quynh Nhu Cam nhắc mới nhớ vụ học xong ra là phải đi hàng 1 bên lề phải cho đến khi ra khỏi khu thị tứ nữa chứ. Thầy mà gặp đứa nào đi hàng hai, ba là bị...xách lỗ tay đến hổng giò chứ chẳng chơi. Bị một lần là tởn tới...ra trường lớp chín luôn.
Thầy nghiêm khắc lắm nhưng suốt mười mấy năm, mình chưa thấy cây roi cày của Thầy quất vô đít đứa nào. Quá lắm thì Thây kêu lên hỏi lý do rồi ra..quỳ cột cờ cho mấy đứa con gái ngắm chơi thôi. Cũng vài đứa bị bộp tay nhưng thật sự lỗi quá nặng như đánh nhau, trốn học nhiều lần. Thời đó, Thầy giáo đánh học trò là chuyện được phụ huynh ủng hộ, không ai than phiền gì thậm chí còn cảm ơn Thầy Cô vì đã bỏ công kèm cặp con mình.
Có lẽ nhờ những Thây Cô như Thầy Ba Học, Thầy Đảnh, Thầy Thơ...mà bọn quỷ sợ như tụi mình ngoan, lễ phép và học hành đàng hoàng, nhiều đứa giờ cũng có những thành công nhất định.
Chiều nay gặp lại Thầy mà trong lòng có nhiều cảm xúc. Ông thần ve chai Thiệu Vương Tiến, Tran Phan và Phương Mập ơi! Mấy thằng giờ đang vi vu trên đất Mỹ, bây có nhớ Thầy Ba Học không?