Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2011

Các Bài Bản Tổ / 20 Bản Tổ của Cổ Nhạc Tài Tử VN

Gồm có:
- Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai + Nam Ai Lớp Mái , Đảo Ngũ Cung + Song Cước .
- Sáu bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Phú Lục, Bình Bán, Cổ Bản,Xuân Tình,  Tây Thi, .
- Bảy bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.
- Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Phụng Hoàng Cầu, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng.
- 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ
- 4 bài Oán ngoại gồm: Võ văn hội oán, Ngươn tiêu hội oán, Tư mã Tương Như, Thu phong lạc điệp ( NS Huỳnh Tú Anh- Trà Vinh)

20 bản tổ chia ra 4 loại: 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), kể ra:
1. Sáu bài Bắc: xếp vào mùa Xuân, giọng nhạc vui tươi. Nhạc sĩ đờn 6 bài nầy thì day mặt về hướng Bắc.
Sáu bài Bắc gồm: Lưu Thủy Trường, Xuân Tình, Phú Lục, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Cổ Bản.

Các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.

Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước
biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài rạ Một câu của "đoản" bằng hai câu của "trường". Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam
Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấụ

Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.


2. Bảy bài nhạc Lễ: xếp vào mùa Hạ, nên thường gọi là 7 bài Hạ, giọng nhạc bực tức, hùng hồn. Nhạc sĩ đờn 7 bài nầy day mặt về hướng Ðông. Bảy bài nhạc Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Ðối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.

Ý nghĩa như sau:

Xàng Xê: Thời kỳ Hỗn độn sơ khai, các khí lộn lạo. hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm áị

Ngũ Ðối Thượng: Ngũ Khí nhẹ nổi lên làm Trời.

Ngũ Ðối Hạ: Ngũ Khí nặng hạ xuống làm đất. Ðó là Ngũ Hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man
mác, thanh thản.

Long Ðăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí. giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.

Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí. : giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị,

Tiểu khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật.

ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.


3. Ba bài Nam: xếp vào mùa Thu, giọng nhạc trầm buồn ai oán. Nhạc sĩ đờn 3 bài nầy thì day mặt về hướng Nam.
Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Ðảo Ngũ Cung.

Nam Xuân: gặp mời, mừng. (Thượng nguơn)

Nam Ai: trông mong, ngưỡng mộ. (Trung nguơn)

Ðảo Ngũ Cung: bày tỏ, tái ngộ. (Hạ nguơn)

Ba bài Nam nầy có 4 giọng đờn khác nhau tùy theo 4 mùa (Tứ quí: Xuân, Hạ, Thu, Ðông) kể ra:

Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là "tiên phong đạo cốt". Bài này được dùng để mở
đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.

Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái)
thường hay dùng nhất.

Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là
"song cước".

Giọng Xuân (mùa Xuân) biểu thị mát mẻ, tỏ rạng, vui tươi,

Giọng Ai (mùa Hạ) biểu thị nóng nực, tâm hồn buồn thảm.

Giọng Ðảo (mùa Thu) biểu thị mưa dầm, xây vần, đảo lộn.

Giọng Song cước (mùa Ðông) biểu thị thâm trầm, mùi mẫn.

4. Bốn bài Oán: xếp vào mùa Ðông, giọng nhạc hiền hòa, non nước thanh bình. Nhạc sĩ đờn 4 bài nầy thì day mặt về hướng Tây. Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu, Phụng Hoàng.

Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn
thường hay được dùng.

Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãị

Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.

4 bài Oán phụ:

Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo nãọ Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2
(lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.

Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dựng.

Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.
Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.
...............................................

Phân Loại Bài Bản Cải Lương Tài Tử


Theo các sách hướng dẫn đờn hát cải lương nói trên thì nhạc cổ và cải lương được phân thành mười mục:
- Nhứt Lý : các điệu Lý
- Nhì Ngâm : ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc...
- Tam Nam : ba bài Nam lớn
- Tứ Oán : các bài Oán
- Ngũ Điểm : sáu bài Bắc lớn
- Lục Xuất : sáu bài ngắn
- Thất Chinh : bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
- Bát Ngự : tám bài Ngự
- Cửu Nhĩ : 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn (Hội ngươn tiêu, Bát bản Chấn)
- Thập Thủ : thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn

Bài Vọng Cổ, hậu thân của bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác trong những năm 1920, không thấy trong bảng phân loại nói
trên. Không biết là bởi vì bài Vọng Cổ quá đặc biệt để phân loại hay do sự phân loại này được làm trước khi bản Vọng Cổ được phổ biến rộng rãị
Cũng cần nên nhắc qua là trước khi bài Vọng Cổ chiếm được vị trí số một trong âm nhạc cải lương thì bài Hành Vân được dùng rất rộng rải trên sân
khấu cải lương, như bài Vọng Cổ ngày nay vậỵ

Dưới đây mỗi mục sẽ được điểm qua sơ lược.

1. Nhứt Lý

Các điệu Lý, xuất xứ từ dân ca, được cải lương hóa, thường dùng để hát đệm trong bài Vọng Cổ hoặc trong các tuồng cải lương. Những bài hay được dùng nhiều nhất là :
- Lý Con Sáo
- Lý Ngựa Ô (Nam và Bắc)
- Lý Thập Tình
- Lý Giao Duyên
- Lý Vọng Phu
- Lý Chiều Chiều
- Lý Cái Mơn
- Lý Huế
- Lý Phước Kiến
- Lý Phước Châu

Trong các điệu Lý, như Lý Ngựa Ô, có ngựa ô Nam và ngựa ô Bắc. Lý Con Sáo và Lý Thập Tình có hơi Xuân và hơi Aị Đờn hơi Bắc và hơi Xuân thì vui, đờn hơi Nam và hơi Ai thì buồn. Các điệu Lý khác phần nhiều đờn hơi Nam.

2. Nhì Ngâm
Gồm có ngâm thơ, ngâm sa mạc, ngâm Kiều , và nhiều điệu ngâm khác. Có người ngâm theo điệu Bắc, có người ngâm theo điệu Huế nhưng đa số ngâm theo điệu Sài Gòn (tùy theo sở trường và khả năng của mỗi người).

3. Tam Nam
Gồm ba bài Nam:

- Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là "tiên phong đạo cốt". Bài này được dùng
để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.

- Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp
Mái) thường hay dùng nhất.

- Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là
"song cước".

Trong "Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam" của ông Trần Văn Khải, nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, có nhắc tới Nam Bình và Nam
Chạỵ

- Nam Bình: còn gọi là Trường Tương Tư (một trong Bát Ngự).

- Nam Chạy: vừa ca vừa chạy, là hai lớp trống của Nam Ai, nhưng ca nhịp thúc để diễn tả lúc chạy giặc.

4. Tứ Oán Gồm các bài:

- Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang
vắn thường hay được dùng.

- Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo nãọ Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2
(lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.

- Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dư.ng.

- Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.

- Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

- Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãị

- Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.

- Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét
giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

5. Ngũ Điểm
Gồm sáu bài Bắc lớn, các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.

- Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài rạ Một câu của "đoản" bằng hai câu của "trường". Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

- Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào
Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất
nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

- Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

- Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi
phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấụ

- Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

- Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

6. Lục Xuất.
Điệu nhạc các bài này vui, ngắn, gọn. Gồm sáu bài:
- Bình Bán Vắn
- Tây Thi Vắn
- Cổ Bản Vắn
- Xuân Phong
- Kim Tiền: được dùng như bài Mẫu Tầm Tử trong trường hợp đối đáp, cãi nhaụ
- Long Hổ: thường đi cặp với bài Long Hổ Hội, có tiết tấu đối chọị

7. Thất Chinh
Gồm bảy bài:

- Xàng Xê : hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm áị
- Ngũ Đối Thượng: ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.
- Ngũ Đối Hạ: còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.
- Long Đăng: giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.
- Long Ngâm: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
- Vạn Giá
- Tiểu Khúc
- Chiết tử Vĩ *
- Ngũ đối ai*
Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

8. Bát Ngự
Gồm tám bài:

- Đường Thái Tôn: êm, vui, phấn khởi, đắc chí.
- Bát Man Tấn Cống: vui khỏe, để múa hát, chúc tụng
- Duyên Kỳ Ngộ: dùng trong cảnh tái ngộ, thăm hỏi, vui tươi nhộn nhịp. Tiết tấu nhanh, rộn rã,vui tươị
- Kim Tiền Bản: tâm trạng giận dữ, mắng mỏ, hỏi tội, bày binh bố trận, điều binh khiển tướng.
- Ngự Giá Đăng Lâu: khệ nệ, rườm rà, đắc chí vui tươi, kể lể dài dòng.
- Ái Tử Kê: ngắn, giai điệu chững chạc, cân đối, trìu mến thương tiếc. Lời gốc của điệu này tả một bầy gà con bị chồn bắt.
- Chiêu Quân: quạnh quẽ cô đơn, trầm lặng nhưng rất ảo nãọ Bài này thường đi cặp với bài Ái Tử Kê.
- Trường Tương Tư: bài này nhẹ nhàng thư thái, thất vọng, nhớ nhung, ít thê lương hơn Nam Aị

Giới đờn hát tài tử thường đờn liên hoàn các bài Ái Tử Kê, qua Chiêu Quân, rồi đến Trường Tương Tư

9. Cửu Nhĩ
Gồm hai bài:
- Hội Nguyên Tiêu
- Bát Bản Chấn

Hai bài này do nhóm tài tử miền Đông sáng tác, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

10. Thập Thủ
Thập Thủ Liên Hườn còn gọi là Liên Bộ Thập Chương từ Huế đưa vào Nam, được cải lương hóạ Các bài này có điệu nhạc vui, ngắn gọn. Gồm mười
bản Tàu, đã được Việt Nam hóa từ lâu, thường được đờn liên hoàn với nhaụ

- Phẩm Tuyết
- Nguyên Tiêu
- Hồ Quảng
- Liên Hoàn
- Bình Bản (Bình Nguyên)
- Tây Mai
- Kim Tiền Huế
- Xuân Phong
- Long Hổ
- Tẩu Mã

Một điều nên nhắc qua là sự phân loại như trên (khoảng 60 bài được nhắc đến) là ở những năm 1950 hay sớm hơn. Cho đến nay đã có hơn 100 bài
được biết / thu thập (và còn nhiều bài sẽ được sáng chế thêm trong tương lai). Cách phân loại như vậy có phần hơi gò bó, còn bỏ sót nhiều bài
bản.

Có nhiều tài liệu sau này phân loại theo hơi Bắc / Nam / Oán hay cở nhỏ / trung bình / lớn. Ngoại trừ một số bản đặc trưng của mỗi loại, dễ dàng
nhận ra, có không ít bài bản khó mà xác định được thuộc loại nào (chẳng hạn ranh giới giữa nhỏ - trung bình, trung bình - lớn đôi khi không rõ ràng, có nhiều bản pha lẫn các hơi ...)

Cách Dùng:
Tùy theo hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng ... mà các bài sau đây thường hay được dùng nhất trong các tuồng cải lương cũng như trong những lúc đàn ca tài tử:

1. Lúc vui rộn rã, ngắn, gọn, thường dùng các
bản:
Long Hổ Hội, Ngũ Điểm - Bài Tạ, Lưu Thủy Đoản, Bình Bán Vắn, Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Khúc Ca Hoa Chúc, Ú Liu Ú Xáng, Lạc Âm Thiều,
Mạnh Lệ Quân, Tam Pháp Nhập Môn, Liễu Thuận Nương, Duyên Kỳ Ngộ, Bắc Sơn Trà, Lý Ngựa Ô Bắc, Lý Phước Kiến, Xuân Phong, Long Hổ, Bình Bán.

2. Lúc vui lâng lâng, kể chuyện dài, thong thả nhàn hạ dạo cảnh ngắm hoa, thường dùng các bản :

Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Xuân Tình.

3. Lúc buồn cách biệt thấm thía, não nùng bi thảm, thường dùng các bản : Văn Thiên Tường, Nam Ai, Trường Tương Tư, Xuân Nữ.

4. Lúc buồn man mác, kể lể tâm tình oán hận, bi hùng trước cảnh chia phôi, phút giây gặp gỡ, thường dùng các bản :
Lý Con Sáo, Chiêu Quân, Lý Ngựa Ô Nam, Lý Thập Tình, Lý Giao Duyên, Lý Vọng Phu, Nam Xuân, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Vọng Cổ, Xàng Xê. Các bản Nam Xuân, Vọng Cổ và Xàng Xê có thể dùng trong nhiều tình huống, tâm trạng : vui nhẹ nhàng, lâng lâng, hay buồn man mác đều dùng được Nam Xuân. Cảnh hội ngộ hay chia phôi; cảnh thống thiết hay bi hùng đều dùng được các bản Xàng Xê hay Vọng Cổ.

5. Lúc cãi vã, giận dữ, đối đáp, tranh biện có tính chất gay gắt, dứt khoát, trả treo, thường dùng các bản: Khổng Minh Tọa Lầu, Kim Tiền Bản, Đảo Ngũ Cung.

6. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách hòa hoãn bình thường, các bản sau đây hay được dùng:
Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Bài Ta..

7. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách gấp rút, vội vàng, thường dùng các bản : Cổ Bản, Mẫu Tầm Tử, Kim Tiền Huế, Ú Liu Ú Xáng, v.v...

Trên thực tế chỉ có một số bản được sử dụng rộng rãi mà thôi. Đa số những bài cải lương dùng trong những buổi đàn ca tài tử được trích từ các vở tuồng cải lương. Lý do là lời đặt riêng cho các điệu / bài bản không nhiềụ Có thể nói là sau này không còn thấy lời mới nữạ Các soạn giả chỉ sáng táclời cho bài vọng cổ (và các bài bản nhỏ, để hát xen kẽ với vọng cổ).

Trác Nguyên sưu tầm

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011

NẾU YUE YUE Ở VIỆT NAM ?

Bé Yue Yue đã ra đi để lại tiếc thương cho hàng triệu độc giả sau khi Báo Daily Mail cho hay các bác sĩ đã kết luận bé bị chết não. Hàng loạt bài báo cũng như trang mạng sôi sục vì thái độ thờ ơ của nhiều người tại hiện trường. Người dân Trung Quốc phản ứng mãnh liệt và cho rằng đạo đức của con người ngày nay đã bị suy thoái và nghĩa cử của Bà Trần Hiền Muội, người nhặt rác đáng được tôn vinh. Nhưng nếu bé Yue Yue đang ở Việt Nam và nếu chúng ta là người chứng kiến thì chúng ta làm được gì và làm điều đó thế nào để có cơ may cứu được bé?

Nhiều người cho rằng đây là câu hỏi vớ vẩn, nhưng xin hãy tự vấn lương tâm, mình sẽ làm gì trong trường hợp này là đúng đắn?  Thường ngày, trên đường đi, trong chúng ta cũng có người gặp một vụ tai nạn giao thông, nạn nhân đang oằn oại trên vũng máu, chúng ta đã làm gì nếu không lẳng lặng bỏ đi như 18 người ‘vô đạo đức’ trong đoạn video clip kia? Chúng ta tự cho mình quyền phán xét người khác trong khi nhủ lòng rằng không nên dây vào rước phiền phức, không phải chuyện của mình, mình cũng không biết làm gì trong trường hợp này. Lúc đó không ai trách hay lên án ta ngoại trừ bản thân mình. Ai cũng đã có cơ sở cho cách hành xử của mình tuy trong lòng cũng có một chút ray rứt rồi… thôi, chấm hết.

Thật đáng quý cho tình đồng loại của người đàn bà nhặt rác nhân hậu kia. Cả thế giới ngã mũ nể phục. Mẹ bé Yue Yue đã áp trán lên bàn chân người đàn bà nghèo khổ, lam lũ để bày tỏ lòng biết ơn tột cùng làm ai chứng kiến cũng phải rơi lệ, ai nghe qua xúc động cũng dâng trào. Bà đáng được chúng ta ngưỡng mộ vì một tấm lòng. Thế nhưng, thực tế, người đàn bà ấy đã giúp bé hay đã làm hại bé?

Theo chuyên gia huấn luyện Chương trình Phòng chống tai nạn thương tích quốc gia,  Bác sĩ Đỗ Ngọc Chánh, Khoa Cấp cứu Ngoại viện Bệnh viện Trưng Vương, thì mọi can thiệp không đúng cách trước một tai nạn đều gây hậu quả nghiêm trọng. Trường hợp chấn thương nặng, mất máu nhiều như bé Yue Yue mà nâng đầu nạn nhân cao lên thì toàn bộ máu còn lại trong các cơ quan quý giá của cơ thể như não, gan…  sẽ tụt xuống mất hết. Nạn nhân sẽ nhanh chóng rơi vào hôn mê và chắc chắn tử vong do chết não nếu đến bệnh viện lâu hơn 10 phút mà không có nguồn máu lên tưới cho não trong thời gian đó.

Bỏ qua tất cả những chi tiết khác, ta thử xem lại video clip đầy đủ dài hơn 7 phút. Đoạn clip cho thấy thương tích nghiêm trọng của Yue Yue nằm phần từ bụng trở xuống. Máu bé tràn ra mặt đường trong khi hai tay bé vẫn còn vung vẫy, quờ quạng suốt thời gian sau tai nạn đến khi bà Muội tới gần. Điều này chứng tỏ nhiều khả năng não của bé chưa bị ảnh hưởng lớn. Từ khi bà Trần Hiền Muội bỏ bao rác xuống, dựng bé lên, bé đổ gập về phía hai chân. Bà lại xốc bé lên, lê vào lề đường. Lúc đó đầu bé đã gục hẳn, bất động. Mẹ bé đến đã xách hai tay Yue Yue lên, bé rủ xuống làm  bà mẹ phải bế thốc lên lần nữa. Tất cả những chi tiết này hoàn toàn phù hợp với kết luận của các Bác sĩ : Yue Yue tử vong do chết não.

Bác sĩ Trịnh Văn Hiệp, Trung tâm truyền thông Giáo dục sức khỏe TP.HCM cho rằng, 18 người đi đường đã có thái độ đúng khi không can thiệp vào nhưng nếu họ dừng lại che chở cho bé, gọi điện thoại cho cấp cứu mà không cần làm gì thêm thì đã quá đủ cho cơ may sống sót của Yue Yue. Suy nghĩ của bà Muội là đáng khen nhưng hành động như thế rất nguy hại cho nạn nhân vì bà không có được những hiểu biết nhất định cho những tình huống như thế này. Mẹ của bé thì đã không còn tỉnh táo khi chứng kiến con mình như thế.

Tóm lại, theo các chuyên gia, gặp trường hợp tai nạn có thương tích, để cứu giúp nạn nhân, nếu không biết kỹ năng sơ cấp cứu, chúng ta chỉ cần gọi một cuộc điện thoại báo cho Cảnh sát 113 hoặc Cấp cứu 115 rồi đứng bảo vệ cho nạn nhân hoặc làm theo hướng dẫn của nhân viên y tế 115 qua điện thoại, hạn chế mọi di chuyển và nếu có thể thì cột ga rô cầm máu cho nạn nhân nếu biết cách.

Chỉ cần một tấm lòng, một ít thời gian thì chúng ta không phải trốn chạy khỏi hiện trường tai nạn, bỏ mặc nạn nhân hay vội vã khiêng kéo nạn nhân khi không đánh giá được thương tích của họ. Nhờ vậy, có thể chúng ta không phải đau lòng vĩnh biệt những nạn nhân xấu số như thiên thần nhỏ Yue Yue.
Đoàn Nhật Trung

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

Tấu Quan Thượng thư Bộ Công

Bẩm Quan Thượng,

Từ ngày cụ thăng quan tiến chức đến giờ, lòng con phơi phới. Con chẳng dám như Xuân Ba- CAND, thấy người sang bắt quàng làm họ hay tin tưởng như bạn "còn thấy niềm tin cuộc sống" trên Dân Trí. Nhưng con nghĩ chẳng mấy khi triều ta có người dám hô phong hoán vũ như cụ. Không phải vì con tọc mạch hay muốn kiếm chác gì khi nói ra những điều mắt thấy tai nghe mà chỉ vì lòng quý trọng cụ.

Phát biểu của cụ với báo giới "Bộ trưởng là tư lệnh lĩnh vực ngành phải cho tôi toàn quyền. Tư lệnh ra chiến trường phải được toàn quyền quyết định chiến đấu, tiến hay lùi, nếu chờ xin phép thủ trưởng ở nhà thì sẽ lỡ cơ hội". Nhiều đám thì bảo phải thế chứ. Cơ hội thì ít mà còn phải xin ý kiến thì làm được gì nữa? Đứa "dở hơi" lại nói quan thượng sao lại đá lộn sân văn sang võ thế?

Chuyện quan thượng chém tướng Đặng Hồng Cương thật ầm ĩ. Trước khi chém, quan phán “Các ông đùa à?". (Úi chà chà... Khẩu khí nhà quan có khác!). Đã thế, hai nhà thầu chính còn bị cụ dập đến mức...hết đường làm ăn, hai sếp phải lánh nạn. Cụ còn lập tức gõ dây thép "mời đại diện Công ty Hoà Bình sẵn sàng thay thế nhà thầu nếu cần thiết". Chém xong quan còn đe "nếu trong vòng một tuần không đáp ứng được thì Công ty Hòa Bình sẽ vào thế chân ngay!". Cách quan xử rốp rẻng làm dân chúng vỗ tay rân trời, con cũng nở từng khúc ruột ...già. Nào là "nếu tất cả các quan thượng của nước ta đều như quan thượng thì chỉ cần 1 năm sau cả thế giới sẽ nhìn vào VN ta với một con mắt thán phục"; nào là " đọc mà sướng cả mắt, như thế mới xứng đáng là một người đứng đầu một Bộ chứ". Nghe thật hả lòng hả dạ. Thế nhưng 'bọn ác' lại bảo quan cậy thế làm càn; nói năng như ngoài chợ trời; chỉ định thầu (Công ty Hòa Bình) mà đòi "Kỷ luật nếu còn để đấu thầu chỉ có một nhà thầu" thì thật là tức cười; chém tướng bằng kiếm gỗ...

Quan thượng tính toán như thánh "tổng cộng ôtô là 1,8 triệu chiếc và xe máy là trên 35 triệu chiếc. Trung bình gần 2 người có một xe máy" thì rõ ràng hơn 70 triệu đứa có liên can gây ra nạn kẹt xe. Quan thượng viện dẫn "Các thành phố lớn của Trung Quốc làm gì có xe máy. Ôtô mà vào được thành phố thì rất khó khăn bởi rất nhiều loại phí, lệ phí. Đấy là họ hạn chế cả ôtô lẫn xe máy." và cụ chắc mẻm như đinh đóng cột rằng "chắc chắn cuối năm 2012 ùn tắc giao thông tại Hà Nội, TP HCM sẽ giảm bởi với những giải pháp đưa ra không giảm được ùn tắc thì mới lạ.". Rõ, quá rõ rồi nhé, làm thôi. Thế mà dân tình cứ xôn xao bàn tán, lo lắng không nguôi. Một số đứa bảo " Hạn chế gì? Không cho đi vào tuyến đường nào đấy nếu không phải cấm thì là gì? Thế này thì luật vứt rồi.". Bọn chống đối còn ngang nhiên thách quan thượng "cùng buýt" giờ tan tầm. Quan thượng ứng phó thật tài tình khi vừa hạ lệnh cho lính trong phủ của ngài phải đi xe buýt ít nhất 1 ngày trong tuần. Thế mà bọn lắm điều còn chưa chịu. Ngay cả khi quan đã dạy "chúng ta không bao giờ phát triển được dịch vụ vận tải công cộng tốt trong khi vẫn để phương tiện cá nhân hoạt động thoải mái." thì tay đàn em Nguyễn Hoàng Linh, Phó Giám đốc Sở Giao thông vận tải Hà Nội cũng lật kèo " Trong khi chưa có metro, chưa có tàu điện trên cao, một số tuyến buýt nội đô không thuận lợi mà hạn chế phương tiện cá nhân, dân lấy gì mà đi?”

Quan mới nhậm chức vài ngày Có đứa độc mồm bảo quan thượng phát biểu hùng hồn nhưng chẳng biết làm có ra hồn gì không? Đám khác bảo quan thượng đang có trong tay "thượng phương bảo kiếm" nhưng thời này đồ giả nhiều, nhất là hàng từ Tàu về nên có khi quan chém bậy bạ trúng đá gãy kiếm là toi. Quan Thượng mà chúng còn xúc xiểm rằng quan chuyên "ngậm dầu phun người", nạp người đối diện đến cay mắt tắt thở. Quan là tiến sĩ kinh tế thuộc hàng tót chúng tính toán nháy mắt đã ra bài toán giao thông. Vậy mà bọn thám hoa, bảng nhãn làng nhàng dám bảo quan rằng "không có cơ sở khoa học.". Quan nhìn xa trông rộng mang tầm chiến lược, khu vực như thế mà chúng dè bỉu rằng quan đang ở dầu, biết cóc gì cầu với đường, chỉ giỏi bê nguyên xi của thiên triều về. Nào là cấm đánh "góp" thì sao không ngon cấm các quan dự yến tiệc đi...

Bẩm cụ, xin cụ thứ tội. Con còn nghe có đứa, nghe đâu cái bọn "nhóm lợi ích" gì đấy, rắp tâm thoa mắt mèo lên ghế cụ. Bọn khác còn lôi gia phả của cụ ra xăm soi rằng Thượng Thư Bộ Công xuất thân con nhà ca hát, xướng ca vô loài chứ danh giá gì. Chúng tán hươu tán vượn rằng la si thăng giáng gì cũng thế. Hát hay mà không trúng tông, trúng nhịp thì có ngày đứt hơi thở cuối cùng như chơi. Thật là bọn quá xem thường vương pháp.

Với lòng ngưỡng mộ cụ thượng tuổi trẻ ngồi cao vô bờ bến, phận thấp hèn con xin có vài lời trình tấu để cụ liệu. Lời quê mộc mạc, nếu có điều mạo phạm, con xin cụ xá tội. Kính chúc cụ thăng quan phát tài, phát lộc, rỡ ràng gia tộc cho chúng nó sáng mắt ra. Mong cụ vạn an.

Kính tấu

Từ Nhân Dân

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

TỰ TRÀO III

Bệnh viện thành nơi để móc tiền
Tớ buồn rồi tớ nổi cơn điên
Bỏ dao, xách kéo làm gà hấp
Vất thuốc cầm thìa trở cá chiên
Khách khứa nhiều khi gây bực dọc
Bạn bè lắm lúc rất buồn phiền
Vườn- chim đua hót, ao đầy cá

Một mái nhà tranh. Sướng tợ tiên!

DrTrungGP

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Món ngon Thốt Nốt: Hủ tiếu hấp

Món điểm tâm có tên hủ tiếu có lẽ do người Tiều (Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc) sáng chế và đem từ cố thổ sang Việt Nam từ khi họ di dân sang định cư tại đây. Theo thời gian, nó đã trở thành chẳng những món ăn sáng, mà còn là thứ ẩm thực phục vụ hầu như suốt cả ngày. Ngoài hủ tiếu nước, tức hủ tiếu trụng nước sôi cho vào tô với thịt bằm, thịt nạc, tim, gan, phèo, cật, giá, hẹ, chan nước lèo nấu xương heo, tôm khô, khô mực xăm xắp, rắc nhúm tang xại tỏa mùi thơm đặc trưng. Bên cạnh đó còn có hủ tiếu khô cũng được thực hiện bằng hủ tiếu trụng trộn chút mỡ nước, trải lên mặt cũng thịt băm, thịt nạc, tim, gan, phèo, cật, giá, hẹ cùng nhúm tang xại. Cũng như hủ tiếu nước, người ăn nặn chanh, cho ớt xắt lát ngâm giấm, xịt miếng nước tương vào rồi trộn đều trước khi ăn; ăn xong họ mới thưởng thức chén nước lèo đặt bên cạnh. Ngoài ra còn có hủ tiếu xào, cũng được thực hiện với các nguyên liệu gần như trên. Món nào cũng ngon, giúp thực khách thỏa mãn cái dạ dày khi đói hoặc khi lưng lửng muốn ăn chơi.
Hủ tiếu hấp cũng là món điểm tâm nhưng gần như khác “một trời một vực” với ba loại hủ tiếu nêu trên. Sợi hủ tiếu không trụng trong nồi nước sôi mà đặt trong xửng nhỏ chưng cách thủy. Món này muốn ngon phải dùng loại hủ tiếu tươi được làm bằng gạo lúa mùa nguyên chất. Sợi hủ tiếu vừa đủ một lần ăn xé rời ra cho vào xửng hấp, không được phép hấp một lần nhiều hủ tiếu vì sẽ không nóng và mất ngon. Ăn cùng với hủ tiếu hấp là xíu mại, thịt nướng, xá xíu, bì, dưa leo cùng một ít rau thơm. được làm bằng da heo rửa sạch, xắt từng lát mỏng rồi xắt sợi thật nhỏ, ướp đường, tỏi, bột ngọt cùng chút thính cộng với thịt nạc chiên vàng xắt nhỏ. Thịt khìa làm bằng thịt nạc ướp gia vị và nước dừa xiêm đun trên bếp lửa riu riu. Xíu mại gồm thịt nạc bằm trộn chung chả cá thát lát đánh thật dai, ướp gia vị, vò thành viên hấp, không sử dụng củ sắn. Món này ngon nhờ nước xốt và nước mắm chan. Để có nước xốt ai ăn cũng “nhớ đời”, phải dùng cà chua bằm nhỏ xào với nước thịt khìa. Riêng nước mắm chan cũng phải có “công phu” điêu luyện là dùng nước mắm nhĩ thắng với đường cát trắng. Vậy là đã sẵn sàng cho một dĩa hủ tiếu hấp.
Hủ tiếu hấp ăn bằng dĩa. Dĩa đựng sợi hủ tiếu, trải lên mặt ít bì, viên xíu mại, miếng thịt nướng, miếng xá xíu cùng rau thơm và dưa leo bằm, chan nước xốt cùng chút nước mắm, gài đôi đũa góc dĩa, dọn ra bàn. Khách cầm đũa, cần ăn mặn hơn thì chan thêm nước mắm rồi trộn đều, thưởng thức. Món điểm tâm vừa nóng vừa mát là lạ này khiến bữa điểm tâm hấp dẫn, vì hủ tiếu hấp sao từa tựa bánh tằm bì, nhưng phong phú hơn với nhiều loại thực phẩm ăn chung. Ngon quá, căng bụng là chuyện thường.
Hủ tiếu hấp được bán xưa nay ở chợ Châu Đốc (An Giang), là đặc sản có mặt tại chợ Hà Tiên (Kiên Giang) và cả chợ Thốt Nốt (Cần Thơ). Ở Hà Tiên, hủ tiếu hấp được bán ở khá nhiều nơi với bì, chả giò. Đặc biệt, ở Hà Tiên bên cạnh hủ tiếu hấp người ta còn bán kèm bánh tằm bì. Khách muốn ăn riêng từng món hoặc “gộp” chung hai món một dĩa cũng được, gọi vui là “tiếu tằm”. Đặc biệt, ở Hà Tiên còn có “văn hóa” bán hàng, là: bạn cứ ngồi nhà điện thoại tới tiệm, quán, họ sẽ tự thân đem món ăn đến “tận miệng” bằng xe đạp hoặc xe gắn máy. Người bán một tay đỡ mâm hủ tiếu hoặc món gì đó, một tay cầm ghi-đông xe rồi phom phom đạp hoặc chạy đến nơi theo nhu cầu, thật tiện lợi. Riêng ở chợ Thốt Nốt, món ăn này chỉ bán ở góc chợ ngã tư đường Lê Lợi dưới dốc cầu Thốt Nốt vào lúc 18 giờ. Sớm hơn, lúc 15 giờ có một bà cụ bán trên đường Cầu Chùa.
Cứ tưởng đây là món đặc sản của người dân địa phương này, nhưng tìm hiểu kỹ mới biết nó có xuất xứ từ Phnom Penh (Campuchia), với bì và xíu mại. Té ra, “nhập” vào Việt Nam, hủ tiếu hấp đã chuyển mình phong phú, đa dạng và hấp dẫn.

Theo PHƯƠNG KIỀU-Báo Hậu Giang

Gác cúm núm - thú tiêu khiển ở đồng quê

Bác Nguyễn Ngọc Thuyền, chủ vườn cò Bằng Lăng ở huyện Thốt Nốt, Cần Thơ, là người say mê gác cúm núm từ thuở nhỏ. Bác cho biết: Cách nay vài chục năm, cúm núm nhiều vô số kể. Hàng năm, khi trời vừa chuyển sang xuân, nhất là lúc bông lúa vừa ngậm sữa, khí xuân tràn về ấm áp, dòng họ nhà cúm núm bắt đầu đua nhau cất tiếng gọi tình và biểu dương sức mạnh. Con trống, con mái suốt ngày lao rao, rậm rật trong các lùm bụi, gần đầm lầy hoặc dọc theo chân đê, mé đìa, ruộng lúa, bờ ao, mương cá để bắt cặp, quầng tổ, âu yếm nhau như đôi uyên ương không rời nửa bước.
Cháu ruột của bác Thuyền là anh Nguyễn Trường Cửu cũng là một tay mê cúm núm. Mỗi lần đến nhà anh tôi có cảm giác như đang đứng trước một khu vườn đầy ắp những tiếng chim và có lúc bị hốt hồn bởi dòng âm thanh kỳ thú “hù... hù... cúm núm... cúm núm... cum... cum... cum... ọc... ọc...” vang lên nhịp nhàng, có lúc trầm hùng, có lúc vút lên cao tạo thành một điệp khúc rộn ràng và êm ái, giống như nhịp chày giã gạo khiến mọi người rộn lên một niềm vui khó tả. Anh nói: “Trời hửng sáng mà nghe tiếng cúm núm rộ lên, trong lòng nôn nao không sao chịu nổi...”.
Mùa gác cúm núm hàng năm bắt đầu từ tháng giêng đến tháng bảy âm lịch. Thời gian này lông con trống đen mượt, mồng đỏ và cất tiếng kêu vang dội khắp cánh đồng. Bác Thuyền vừa chỉ những con chim trong lồng vừa diễn tả: Cúm núm là loài chim nước, ngoài thiên nhiên chúng sống từng cặp trống mái, suốt ngày lủi thủi trong các bụi rậm, nơi ruộng lúa ken dày. Tới mùa ái ân chúng bẻ cò bông lúa hoặc cây cỏ làm tổ sơ sài rồi đẻ trứng. Mỗi năm chúng đẻ hai, ba lứa vào tháng tư, năm, sáu. Hồi còn đi học, tôi cũng thường hay ra đồng hốt trứng cúm núm, mỗi ổ 5 - 6 trứng đem về bỏ vô nồi cơm... Ngày tháng qua mau, bây giờ muốn tìm lại chút hương vị ngày xưa cũng không dễ gì!
Theo bác Thuyền, muốn gác cúm núm trước hết phải biết huấn luyện con mồi sao cho thật khôn lanh và dũng mãnh để áp đảo các đối thủ. Con cúm núm mồi lý tưởng thường có bộ lông mượt mà, mồng đỏ, lanh lợi, dạn dĩ và háo thắng, vừa thấy chim trống lạ là xòe cánh, hùng hổ và cất tiếng vang lên như một hồi còi xung trận. Muốn có một con cúm núm mồi “độc chiêu”, người nuôi phải lấy trứng từ ngoài đồng về cho gà tre ấp, sau đó mới chọn ra những con xuất sắc để thuần dưỡng trong 2 năm mới đủ kinh nghiệm và bản lĩnh để trở thành cúm núm mồi.
Tiếng kêu của con trống vừa là giọng khiêu khích vừa là khúc nhạc “dạo tình”. Thường con mồi hay bao giờ cũng có giọng đầy kiêu hãnh, chúng kêu liên tục, kêu từng tràng dài hàng mấy phút cho đến khi nào chinh phục được con mái mới chịu thôi. Cũng như chim cu, mỗi vùng đất đều có một con đầu đàn cho nên tiếng kêu của con trống ngoài tác dụng gợi tình, quyến rũ “người yêu” còn nhằm thể hiện sức mạnh của “lãnh chúa” một vùng.
Thường mỗi buổi sáng đẹp trời, con đầu đàn thường tỏ ra hưng phấn, đập cánh, nhất là khi nó phát hiện có tiếng kêu lạ báo hiệu có kẻ xâm lược lãnh thổ hoặc trong thời điểm con mái “động tình” nó lại càng sung mãn, hiên ngang rồi tìm đối thủ lao thẳng tới, ưỡn cái ức no tròn để áp đảo đối phương và kết thúc hiện tượng “khoe mẽ” bằng một hồi vũ lực. Một khi con trống bị bắt, vài ngày sau sẽ có con trống khác thay thế chức “lãnh chúa” và bắt đầu phát huy thế lực của mình.
Bác Thuyền cho biết cúm núm tuy mộc mạc, thiếu bộ lông sặc sỡ nhưng bù lại có tiếng kêu thuộc bậc thầy của các loài chim nước. Đó là tiếng kêu vừa điệu đàng thân thiết, vừa xôn xao man mác, gợi lên cả một vùng trời ký ức về tuổi thơ.

Sau một hồi trò chuyện, anh Trường Cửu dẫn chúng tôi ra các lồng nuôi cúm núm mồi, vừa giới thiệu vừa mở cửa lồng rồi búng nhẹ hai ngón tay, miệng bắt chước tiếng chim, con cúm núm từ từ bước ra đứng trên tay anh cất giọng “cúm núm... cum... cum... ọc... ọc...” ngân vang như tiếng mõ tre nhịp nhàng. Sau đó anh xách lụp dẫn tôi ra đồng tìm chỗ gác.
Cũng như gác cu và gác quốc, người gác cúm núm chỉ cần một cái lụp (bẫy sụp) và một cái lồng để nhốt con mồi. Sau khi tìm được một nơi yên tịnh, vắng vẻ anh mới đặt lụp xuống, bên cạnh là lồng cúm núm mồi. Xong mọi người lùi ra xa chừng 20 mét ngồi chờ đợi. Một lát sau, con mồi trong lồng bắt đầu cất lên tiếng kêu to, càng lúc càng hối hả với một giọng điệu đầy kiêu hãnh. Tôi hồi hộp ngồi chờ... Hình như đánh hơi được có địch thủ đâu đó, con mồi càng phấn khích, nó niểng đầu, đập cánh một lúc rồi lại tiếp tục “hù... hù... cúm núm... cúm núm...”. Lúc đầu còn chậm rãi, sau trở nên giục giã, liên hồi tạo thành một dòng nhạc xôn xao và phấn khích. Ngay lúc đó, từ trong bụi rậm không xa, chàng “thủ lĩnh” đồng xanh, vừa bắt được giọng khiêu khích liền niểng đầu lắng nghe rồi cất tiếng đáp lại bằng những tràng âm thanh ngạo nghễ “cúm núm... cum...” như báo cho kẻ lạ mặt biết rằng “có ta đây”, nhưng con trong lồng vẫn tiếp tục vang lên một cách ranh mãnh và tự đắc. Thế là sau một hồi gờm, hai bên bắt đầu trổ hết tuyệt chiêu của mình để tranh tài. Chàng “hiệp sĩ rừng xanh” tức khí trổ hết món nghề rồi vỗ cánh nhắm hướng đối phương nhào tới, xòe cánh sà lên chiếc lồng của “vị khách không mời mà đến” để thị uy. Con cúm núm mồi cũng không vừa, tuy ở trong lồng nhưng nó cũng sừng sộ, tức khí, ăn miếng trả miếng rồi xòe rộng đôi cánh như thách đố. Chàng hiệp sĩ bên ngoài tức quá không dằn được cơn thịnh nộ, định phá tan chiếc lụp để xé xác con mồi cho hả dạ nhưng vừa nhảy xuống định xông vào lồng tấn công liền đụng phải chiếc thanh gài, chiếc bẫy lập tức sụp xuống, kết thúc một đời ngang tàng bướng bỉnh.
Bác Thuyền nói tuy chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn nhưng đối với cúm núm, quốc và chim cu đều là những con vật thân thiết của đồng quê, chúng ta chỉ thỉnh thoảng gác một vài con để tiêu khiển và tìm thú thanh nhàn, không nên lạm sát.

Theo THÀNH HIỆP (Khoa học phổ thông)

Món ngon cù lao Tân Lộc

(ĐNT)- Đây là bài viết còn nhiều thông tin cần chỉnh lại cho sát hợp với thực tế. Tuy nhiên, xem như một tư liệu để phát triển.

Tân Lộc (Thốt Nốt, TP Cần Thơ) là một cù lao giữa sông Hậu có nhiều vườn cây (đu đủ, sa pô, mít Mã Lai, dừa) trĩu trái nên thu hút khá nhiều khách tham quan. Đặc biệt dịp Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch), hàng chục ngàn người từ Long Xuyên (An Giang) xuống, trung tâm TP Cần Thơ lên, Lai Vung (Đồng Tháp) qua, khiến cù lao này trở thành vùng quê náo nhiệt, vui tươi. Ngày hội này còn diễn ra vào mồng hai Tết Nguyên đán hằng năm.
Là “cù lao cá” nên Tân Lộc quanh năm đều có món ngon từ các “danh ngư”: Từ mồng 5 tháng 5 tới tháng 9 âm lịch là mùa đánh bắt cá sữu. Người ta “bắt lưới” khi con nước đục (mùa nước đổ từ thượng nguồn sông Hậu về, còn gọi mùa nước son). Nước trong thì câu cá ( ?) bằng mồi kiến non, gián, thuốc ủ. Từ rằm tháng 10 âm lịch, nước giựt, khai thác cá linh bằng chài, lưới và vó. Đặc biệt là cách dùng lưới giựt giúp ngư dân thu hoạch cá “bể tay”, có khi được 20 giạ cá/lần giựt (13kg/giạ), thậm chí đạt 40 giạ cá một lần giựt. Đó là chuyện trước đây, còn bây giờ cá cũng có nhiều nhưng chẳng bằng. Mùa thu hoạch cá linh dần thưa và chấm dứt sau 30 ngày.
Từ tháng 11 âm lịch, đến sau Tết Nguyên đán là mùa “săn” cá bông lau. Địa phương có phường chài, phân chia khu vực đánh bắt. Mỗi ghe có hai người, thường là vợ chồng, một người chèo, một người phơi (thả lưới). Nước dâng bắt đầu đánh. Trước khi nước rút, khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, thì kéo. Mỗi đợt kéo người ta thu hoạch trung bình chừng 4-5 con. Cá ở đây có con nặng tới 10kg. Để thu hoạch được nhiều cá, ngư dân nhìn dòng nước phán đoán “ổ cá” nằm ở nơi nào, thường là nơi ngã ba khúc sông nước chảy mạnh.
Đánh bắt cá sữu và cá linh diễn ra vào ban ngày. Riêng cá bông lau thì ngư dân hoạt động suốt đêm. Hàng trăm ghe đánh cá cùng hàng bao nhiêu ngọn đèn phao thả đầy khúc sông như một trời sao sa đọng lại, lấp lánh, đẹp mê hồn! Tất cả đều diễn ra nơi khúc Bắc sông Hậu nhánh Lai Vung. Chứng kiến cảnh “dọc ngang sông nước” của các con “kình ngư biết nói” vào ban ngày hoặc ban đêm đều là kỷ niệm nhớ đời của khách phương xa.
Cá sữu, đặc sản Tân Lộc chế biến thành nhiều món ăn: nướng, chiên, hấp gừng, muối sả ớt, chiên xù, kho, nấu canh chua... đều sự “khoái khẩu”. Mùa cá linh bạn sẽ được “nếm” cá linh chiên, kho lạt, kho me, nấu chua so đũa đầu mùa... Mùa cá bông lau thì cũng ngần ấy món nhưng cũng khiến bạn mê mẩn vì cái ngon của loài cá được mệnh danh là “thủy sâm”! Các món cá nước ngọt được quán Thiên Phúc (ấp Phước Lộc) phục vụ quanh năm, giá cả phải chăng, chừng 30.000-40.000 đồng/món. Riêng cá sữu đã chế biến giá 130.000 đồng/kg.
Du lịch ẩm thực miệt vườn Sơn Ca (ấp Tân Mỹ) trên cù lao có những món ăn “lạ”: gỏi bò ba khía, 40.000 đồng; gà ta xào lăn giả cầy, 50.000 đồng; cá hú nấu chua, 60.000 đồng...; đặc biệt là món gà hấp lá trúc, bán theo thời giá; tôm nướng lá trúc cay, 40.000 đồng. Lá trúc mùi vị giống lá chanh nhưng dầy và sậm màu hơn, là đặc sản vùng núi Ba Chúc (An Giang). Trái trúc được nhân dân Bảy Núi sử dụng nhiều nhất trong việc lấy chất chua thay nước cốt chanh tươi cho món cháo bò Tri Tôn nổi tiếng. Từ nhiều năm qua, loại cây này đã có mặt ở Thốt Nốt đi vào ẩm thực.
Theo PHƯƠNG KIỀU - Báo Cần Thơ