Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2011

Lưới cá mè vinh

Bây giờ đã đầu tháng 12, qua thời điểm cá rộ hơn tháng mà mùi con cá mè vinh chiên tươi chấm tương hột xào hành vẫn còn phảng phất. Ngoài chợ vẫn còn bán lai rai nhưng thời điểm "ăn ngán thôi" đã vừa qua rồi. Mùa nước giựt có nhiều cách bắt cá mè vinh nhưng giăng lưới hoặc thả lưới là những cách bắt cá hấp dẫn và hồi hộp.

Từ khoảng đầu tháng chín, xuồng trét dầu chai xong bắt đầu ngâm xuống nước là lúc xóm lưới rộn rịp. Cả xóm đan lưới già trẻ, lớn bé tay đều cầm ghim đan thăn thoắt cho kịp hàng đón cá. Tay trái cầm cỡ (ni), tay phải "múa" không cần nhìn. Thỉnh thoảng, họ dừng lại chằn mặt lưới cho ngay hoặc tuốt lưới khỏi cỡ để bắt đầu hàng đan mới.

Lưới dầy cho giăng đồng khoảng 4 phân (4cm) đổ lại dùng bắt cá nhỏ mới lên đồng như mè vinh lứa, cá rô, cá trê, cá lăng, cá lóc. Lưới thưa 5- 8 phân để giăng hoặc thả đón cá lớn khi nước giựt. Lưới có thể đặt bắt viền sẵn hay mua ký về tự tay khách bắt viền. Đây là một công đoạn mất thời gian và đòi hỏi có kinh nghiệm. Lưới phải chùng vừa đủ để gói cá khi vùng vẫy cũng như không hao lưới. Thường lưới làm sẵn thì khách khải mất công nhưng vì lợi nhuận, những người làm lưới thường bắt viền căng, cá dễ dội lưới hay đâm bể mặt lưới làm cá chạy luôn. Vì thế, người ta thường mua lưới dầy bắt viền sẵn và mua lưới ký loại lưới thưa để tự tay bắt viền cho ưng ý, không sợ vuột cá.

Lưới ký mua về phải xỏ từng mặt theo hai viền bằng hai thanh tre già, chuốt nhỏ như chiếc đũa bếp mỗi thanh có cột một sợi dây dù chắc chắn ỏ một đầu để chuẩn bị dằn lưới. Sau khi luồn hai viền xong mà không để sót mặt lưới nào dù lưới có dài hàng trăm mét, đầu còn lại của sợi dây dù nào sẽ khóa đầu thanh luồn đó tạo thành một cái quai giống như quay võng. Tùy theo dạo cỡ nào mà người ta treo một quai dây dù lên cao vào một chỗ chắc chắn như xà nhà hay cành cây đâm ngang trong sân, quai còn lại ở dưới sao cho cách mặt đất chừng 1 mét. Đầu dưới được treo một vật nặng tối đa có thể nhưng không làm dứt toàn bộ các mặt lưới. Ví dụ với 100 mét lưới đo theo chiều dài mới đan, sau khi luồn viền sẽ dằn khoảng 15 đến 20 kg ở thanh luồn viền dưới. Sau khi treo dằn chắc chắn, người ta lấy nước sôi pha khoảng còn 80 độ trong một ấm lớn bắt thang treo lên cao và xối nước này từ đầu trên chảy dọc xuống đầu dưới. Nước chảy đến đâu, lưới giãn bựt bựt ra tới đó. Có thể nước nóng sẽ được đổ thêm vài lần và người ta có thể dùng tay hay dùng thanh tre nhẵn cạnh vuốt lên xuống theo chiều lưới treo. Lưới thường được đan theo bề dạo (chiều sâu) và cứ đan tới nên mặt lưới chỉ được xiết chặt theo chiều dài. Dằn lưới giúp mặt lưới được xiết chặt theo chiều đứng của dạo lưới làm mặt lưới đều đặn, chắc chắn và không bị chạy mặt.(Chạy mặt là một nút thắt lưới nào đó không chặt, chạy tuột đi làm mặt lưới không còn giữ đúng hình thoi vốn có).

Sau một đêm dằn, lưới có thể giãn ra so với trước khi xối nước nóng từ 3 đến 6 tấc. Lưới được tháo neo hạ xuống. Mặt lưới đều ro, khi buông ra lưới nằm đâu vẫn nằm đó. Tới lúc này hai dây viền trên dưới được luồn theo thanh luồn và gạt toàn bộ lưới từ thanh luồn sang dây viền. Chiều dài dây viền chính là chiều dài lưới thực tế và khoảng hơn phân nửa chiều dài lưới ký mới mua về.

Viền trên hay viền dưới đều là một cặp dây, dây sống và dây chết, hai dây này tương đương nhau và bằng chiều dài của lưới. Dây chết là dây luồn hết các mặt lưới viền. Dây sống là dây tạo gút với dây chết và không luồn vào mặt lưới nào. Công việc bắt viền xuất phát từ một đầu bằng một cây ghim dài bằng tre. Đó là một thanh tre dẹt rộng chừng hai ngón tay được chuốt mỏng còn khoảng 5-6 ly (mm), cắt hình chữ V hai đầu và cuộn hết  dây sống của viền vào cái ghim đó. Thường lưới thưa bắt viền nhanh vì ghim cũng là khoảng cách từ gút này sang gút kia của viền mà mỗi gút viền dưới là điểm gắn chì và vài gút viền trên là điểm cột phao.

Nếu muốn bắt cá to thì dùng lưới 7- 8 phân, bắt cá nhỏ thì 5 phân, thường người ta dùng lưới 6 - 6 phân rưỡi. Như lưới 6 phân, khoảng cách gút thường là 4 tấc với 14 mặt lưới. Nếu là lưới thả, viền trên có thể không cần gắn phao mà chỉ dằn chì viền dưới; lưới giăng thì khoảng 3-4 gút là gắn một phao nhựa, viền dưới dằn chì. Chì viền dưới có thể dùng chì lá cuốn rồi bóp hai đầu lại nhưng kiểu này lưới dễ vướng đầu chì gây rách lưới. Người ta có thể lấy chì khoen của cái chài chặt ra rồi bóp vào mỗi gút. Hai đầu lưới dùng chì nặng hơn bằng 3 tấc dây chì gai đơn, cuốn tròn rồi luồn một đoạn ống nước biển để khép hai đầu chì gai lại tạo thành một cái vòng chì dằn đầu lưới.

Lưới làm xong, người ta thường chọn ngày và con nước để giăng hay thả lấy hên. Ngày mồng 4 hoặc mồng Năm tháng Mười âm lịch hay được chọn nhất vì lúc này con cá trong đồng rục rịch ra sông nên dễ dính lưới và cũng bắt đầu vào mùa thu hoạch cá. Nếu chậm hơn thì ...hơi tiếc vì có năm con cá ra sớm.

Lưới giăng là dành cho dân làm biếng, ít tiền, không có xuồng hoặc ... sợ ra nắng. Giăng lưới chỉ cần hai cây sào dài hoặc hai cặp phao và neo ở hai đầu lưới và tay lưới chỉ cần 6- 10 mét và ...khúc chuối cây để ôm lội giăng lưới là đủ. Phao thì dùng bất cứ thứ gì có thể nổi lên mặt nước để treo lưới được như mút xốp, thùng nhựa vặn nắp, dừa điếc...Lưới thường giăng ở đầu các đống chà, cặp các bụi cây sống dưới nước như đám lục bình, đám nga, đám dứa dại, cây gừa mọc chồm ra sông ...tùy theo chiều nước chảy sao cho lưới khỏi tấp vào, mắc gốc. Giăng lưới xong có thể bỏ đi chơi hoặc làm chuyện khác khỏi cần đi theo tay lưới làm gì cho mệt nhưng năng suất lưới giăng thấp, đôi khi mắt gốc phải lặn gỡ, cá dính lâu bị chết và thiệt thòi nhất là không có cảm giác "cá đâm lưới trong tay" của lưới thả.

Lưới thả không có phao viền mà chỉ có phao treo. Phao treo cũng đơn giản bằng mút hay thùng nhựa 2 lít vặn nắp mà lý tưởng nhất là chai nước biển bằng nhựa. Mỗi phao treo cách nhau khoảng 8 - 10 mét. Chỗ sông quê tôi thì tay lưới thả dài khoảng 60- 80 mét.

(Còn tiếp)


Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

Chuyện những con trắm hồ Chín Súng

Đã hơn một năm, lần đi hồ Chín Súng trước, tớ có dịp chứng kiến trắm khủng, tận tay bắt một em nhỏ và bó tay trước một "trắm cụ".

Con cá trắm bắt được, khi cân lên là 3,7kg (dù nhỏ nhưng tôi sẽ lục tìm hình gửi anh em sau). Vị trí câu là đường dọc chòi lá sau nhà, chỗ rãnh cỏ cặp cây bần và mớ dừa nước, bên trái đi vô, gần của xả ra rạch. Mồi câu là bánh mì ngọt Đức Phát (ABC) loại 6 múi. Câu phao mút, chì nhẹ, một lưỡi đúc số 14, dây 24. Quăng cần đúng đường hẻm cỏ, so dây, gát cần ngồi lai rai. Uống được khoảng 3-4 vòng, phao lừ đừ chìm rồi thình lình dây rút, cần ben. Ngoài kia con cá nhảy dựng lên. Biết là "bạn mình" nên sau khi "đóng", tôi rất cẩn thận dìu. Nó cứ miết miết đi, ổ câu cứ xả rẹt rẹt. Chừng 5-7 phút, ông tui tới gần bờ, lật ngang. Con cá tuy không lớn nhưng hồ bán hoang dã như Chín Súng mà chộp cổ được anh này cũng "hơi bị sướng".

Câu thêm gần hai tiếng, chỉ được thêm mấy con rô phi cỡ bàn tay. Biết chắc còn "hàng" nên tôi bỏ mặc đám nhậu, cầm cần dạo dạo sang mấy hồ kia. Một bác ngồi chỗ chòi lá, bên phải chỗ đậu xe, trong giỏ cũng 6-7 em trắm cỡ cườm tay. Tôi càn bờ lủi bụi lên cống xi măng đối diện bác ngồi câu trắm, sang cái hồ nhỏ đầy rau muống gần phía mới đi vô hồ. Chỗ này ít ai lên vì cỏ, kiến vàng, lá dừa nước lủ khủ. Trời mới tắt nắng. Đang đứng quan sát tìm điểm, tôi thấy bụi lác cơm cặp bờ cách miệng cống chưa đầy 3 mét tự nhiên rung rung nhớm lên rồi như có ai đang kéo rút từ từ xuống. Sau đó năm bảy cây lác trong bụi đó phình lên mặt nước và tất cả đều bị tiện ngang phần lõi non màu trắng. Một bụi lác nữa đang ngọ nguậy. Tôi nín thở bước nhẹ tới miệng cống. Trời ơi! Một vệt trắng phếu như cái gối ôm nhỏ đang ẩn hiện dưới mặt nước chỉ khoảng 5- 6 tấc. Đúng là trắm rồi. Con này lớn lắm, không biết mấy ký nhưng so với em tôi vừa câu chắc dài gấp đôi. Chỉnh phao, móc mồi, tôi hồi hộp thảy câu vào cái lỗ ngay phía đầu con trắm. Kỳ lạ, nó như không quan tâm cứ tiếp tục loay hoay nhổ lác. Tôi tứ tốc trở ra mé đường cách đó chừng 50 mét bẻ mấy lá khoai mì của ông chín trồng, tiện tay xuống mé nhổ luôn một bụi lác nhỏ. Trở lại chỗ cũ, con cá đã đi ra gần tới hồ. Tôi móc một đoạn non lác cơm thảy theo. Rau muống chằng chịt, miếng mồi chật vật mới xuống được đúng chỗ. Con cá vẫn làm ngơ, mải miết quanh mấy gốc lác cặp bờ chẳng đoái hoài đến cọng lác cơm "hóa trang kiểu Úc" của mình. Tôi thay lá khoai mì vô, liệng xuống ngay mặt. Cụ trắm vẫn không thèm ngó. Rồi thay đõi lác, theo tiếp. Con cá cứ vẹt cỏ, nhởn nhơ đi ra lòng hồ. Trời tối, muỗi nhiều, con cá có vẻ no. Tôi đành bất lực nhìn theo.

Mấy ngày sau, tôi trở lại, đi quanh quẩn hồ đó nhưng vẫn không thấy tăm hơi nó. Xả mẻ, ngồi chờ miết cũng không thấy có dấu hiệu gì. Thêm hai ngày nữa, nó cũng bặt tăm. Hồ có chòi lá bên, cạnh mấy anh em ngồi câu hôm nào cũng được mớ trắm cửng nhưng chưa ai lên được hàng ba. Tôi biết nó còn đâu đó quanh mấy lạch dừa nước, dưới đám rau muống mà tìm hoài không biết nó núp chỗ nào. Hệ thống hồ Chín Súng cứ luồn tuôn ra mãi tận mấy hồ vĩ đại phía sau. Tôi phán đoán có lẽ nó đi theo bờ dừa nước, ngược lên phía trên, chỗ chưa có anh em nào tới được vì không có đường đi.

Tôi nổi nóng con cá này đến nỗi bữa đó có mang theo thấu, tôi dám uốn thẳng lại làm chĩa và "chọt vô cổ cúp" của nó để ôm lên. Cái thứ nằm lật nghiêng nghiêng, to đùng, phơi bụng kiểu đó mà đâm không xuyên hầu, trổ mang thì đừng kể. Nghĩ cái hồ cho câu rẻ bèo như vầy làm gì có thứ dữ? Tôi đi chẳng qua vì mấy đứa trong nhà rủ xuống cho tụi nó câu cá lòng tong lăn bột chiên rồi kêu thêm mồi nhậu nên tôi chỉ mang theo cây cần và tòn teng chiếc túi vải nhỏ đựng mấy thứ cần thiết, đồ nghề bỏ hết ở nhà. Mà giờ nghĩ lại, mình dân câu chớ đâu phải dân soi cá đâu mà làm vậy thì còn gì thể thống nữa. Nhưng nếu có thấu, chắc tôi làm thiệt! Con trắm này thật bạo gan quá cỡ!

Đoàn Nhật Trung

Câu cá mè "dinh"(*)

Cá mè dinh có nhiều cách bắt như giăng lưới, thả lưới, dỡ chà. Nhưng "đã tay" nhất là câu cá mè dinh trong đống chà.

Từ khi bắt đầu nước đổ già ngọn cuối tháng Bảy đầu tháng Tám âm lịch, đám cá mè dinh lứa được đẻ hồi đầu mưa giờ bắt đầu dựa chà, chuẩn bị lên đồng. Đám cá này chỉ cần hai tháng hơn vô đồng đã đạt trọng lượng nửa ký đến 1 ký hơn khi nước giựt. Sau mùa cá ra, con mè dinh nào vượt ngục, thoát ải được sẽ chu du dọc sông Cửu Long và lớn lên. Thêm một mớ bị dính lưới, mắc đáy, kẹt chà, trự nào còn thoát được sẽ sống sót và tìm chỗ chà chôm mà kết duyên nhau khoảng cuối tháng Ba âm lịch và sinh con đẻ cái. Chu trình cứ thế mà tiếp tục từ bao đời nay. Và người ở vùng Sông Hậu cũng "canh me" câu con cá này vào thời điểm chúng dựa chà.

Con cá mè dinh tháng Bảy đang cỡ 3-4 ngón tay xíu xiu nhưng được cái chiên thì giòn, câu thì dễ. Lũ nhóc tì đang tuổi ăn tuổi lớn này bạ gì xơi nấy. Nhưng theo một tập tính lâu đời, hạt lúa ngậm sữa là món khoái khẩu mà con cá này ăn cho tới bến. Chính vì thế, người muốn câu con cá mè dinh lứa chỉ cần ra đồng, tìm những bụi lúa hạt còn xanh nhưng đã tròn lẳn, bóp vào có cảm giác núng nính, cắn nhẹ hạt lúa thấy chảy ra dịch đục như sữa là ...cắt liền vài bụi. Mớ lúa này về tuốt hết lá, chỉ chừa cuống hạt bó lại chừng một ốp bàn tay và một vài nhành lúa đạt chuẩn để riêng. Bó lúa được cột chặt vào một cái sào trúc chừng ba mét, đặt lên trên mặt đống chà sao cho bông lúa chìm hết vào nước rồi người câu lên bờ ngồi chờ. Khi con nước sựng lại, nhìn đuôi bó lúa cứ bị giật giật liên hồi kỳ trận là người câu nhanh chóng xuống xuồng ra chà thu hoạch cá.

Xuồng buột thật êm; cần trúc ba bốn mét với dây câu vừa tầm; Lưỡi câu chỉ cỡ lưỡi cá rô số hai, to hơn hạt lúa một chút hay lưỡi đúc số 18.;Phao chì không cần thiết. Lưỡi câu móc một chút trên "mầu" của hột lúa ngậm sữa, xoay lưỡi câu thẳng hàng với hột lúa và nhẹ nhàng buông xuống "cái đám hát bội" ngoài kia sâu độ hai ba tấc. Nước đứng dây đi, nước lùa dây đứng là giật. Gỡ cá rồi móc mồi, sửa mồi, thả xuống, nhìn dây và giật. Cứ thế, người câu phải thao tác nhanh vì qua con nước khó câu hay cá rỉa hết trơn mồi dụ nên tản bầy. Một con nước qua thì lại chờ con nước tới để câu tiếp. Thông thường mỗi con nước như vậy có thể kiếm khoảng trên dưới hai mươi em, đủ ăn hay nhậu rồi. Đám nhỏ này câu mỏi tay, rung người lắm nhưng giật cảm giác "phê" phải là con cá đẻ.

Câu cá mè dinh đẻ thường vào tháng Tư âm lịch hằng năm. Sau chuyến đi thăng trầm từ mùa nước giựt trước, đến nay, các cu cậu đã trưởng thành, bén duyên nhau và tán tỉnh nhau trong các đống chà chờ mưa xuống.

Cách câu vẫn là câu bằng xuồng, có mồi dụ và cầu câu không chì phao nhưng dây lưỡi phải "dữ" hơn và cần phải đem theo nhiều lưỡi dự phòng. Lưỡi câu chọn lưỡi đúc khoảng 13-14 với dây tương thích. Mồi dụ bây giờ là xà lách hoặc dây cứt quạ. Không ai dùng ngò rí vì ...quá sang và không biết bao nhiêu cho đủ; Xà lách đã quá đáng lắm rồi. Xà lách chọn mua loại thân nhỏ lá láng, có chút sâu, dập cho rẻ. Thường nhất là dùng dây cứt quạ cho nhạy và không tốn tiền.

Dây cứt quạ là một thứ dây leo mọc hoang, bò trên đầu các đám cỏ, sậy. Đây là loại dây lá có ba chia, mặt lá nhám, hoa có màu trắng tinh, trái có nhiều cạnh như mướp khía nhưng chỉ bằng ngón tay và ngắn. Khi chín, trái có màu đỏ cam đến đỏ máu rất bắt mắt và lũ chim trau trảu rất khoái. Muốn hái dây cứt quạ phải là người quen nhìn hay đi vào lúc mặt trời chưa lên vì khi đó, màu trắng của hoa nhìn xa đã thấy. Chỉ cần mặt trời lên khỏi ngọn cây một chút là hoa sẽ tàn ngay. Cá mè dinh mà gặp dây này "như lân thấy pháo", sẽ nhào lên đớp ngay mặc dù lá cứt quạ đắng không thể tưởng.

Mồi dụ cũng buột thành chùm nhử cá trước. Khi thấy đám mồi dụ bị giật giật là người câu cũng chuẩn bị ra tay. Trên xuồng bây giờ còn có thêm cái vợt sâu lòng, cán chừng sáu tấc có đóng sẳn cái nỏ để uốn lưỡi bị "quác" và một cây dò để gỡ lưỡi câu khi mắc chà. Cây dò có chiều dài tương đương cần câu nhưng to hơn một chút, trên đầu có gắn một đoạn lò xo khoảng 3 đến 4 vòng (giống như dụng cụ tháo lưỡi câu khi cá nuốt lưỡi sâu). Khi cá sảy, lưỡi câu thường bật lên mắc chà, người ta sẽ luồn dây câu vào lòng lò xo, nắm dây và đẩy cán dò trượt xuống đến khi đầu dò bị cản lại. Bằng cảm nhận, người câu sẽ lắt và đẩy nhẹ để gỡ "lưỡi câu mắc gốc" bên dưới lên một cách nhẹ nhàng, không làm cá hoảng sợ tan bầy.

Câu cá mè dinh đẻ cần một sự tinh tế hơn câu đám "cá mè một lứa" kia. Mồi phải là một phiến lá non vừa đủ hớp hoặc xé từ một phần lá non  ra sao cho thật giống một mảnh lá bị rỉa văng ra từ chùm mồi dụ. Lưỡi câu phải tóm đẹp, sát rạt, cắt thật gọn dây tóm thừa. Lưỡi câu móc mồi lá phải không làm lá giập mà chỉ xoay lá và luồn lưỡi vào. Thả mồi cặp sát mồi dụ độ sâu khoảng hai ba tấc. Cũng giật cá khi "nước đứng dây đi, nước lùa dây đứng".

Phiến lá được thả trên đầu nước, trôi phê phê lững lờ ngang mồi dụ rồi trôi dần xuống cuối nước khoảng năm sáu tấc tùy khoảng chà cho phép và cứ lặp lại như thế. Nước đứng thì thả mồi sát bên chỗ con cá rỉa mồi dụ. Người câu chong mắt căng người nhìn sợi dây mỏng tang chờ nó ngừng lại hay đi ngược nước lên là "phập một phát". Đọt cần câu oằn đi và "liệt liệt xuống". Người cầm cần sướng tê, nín thở để kềm sức chạy của con cá. Chà ở dưới rất nhiều nhưng do câu một lưỡi, con cá dính cứ luồn lách, người câu cứ chịu và căng giãn theo nhịp sức cá mà dìu. Có con va vào chà lộc cộc nhưng dần yếu sức và lên theo đường đã đi xuống rồi "ngã ngang", nhóc mỏ. Lúc này chỉ cần "rề" nhẹ vô gần be xuồng và cầm vợt xúc cá lên. Xuồng thường đậu mé ngoài chà, phía ngọn nên kéo cần là cá đi theo xuôi chiều chà. Xui lắm, con cá mới bị mắc vào kẹt chà và người câu bắt buột phải đẩy xuồng vào, thò tay gỡ cá ra rồi "bợ" lên luôn hay lấy vợt hứng rồi ...ngồi chờ thời. Con nước mùa tháng Tư cũng "lình bình" ít khi chảy xiết nên một lát sau cá tụ lại, người câu có thể câu tiếp cho tới tối. Mà nghiệt ngã, càng tối, con cá đẻ càng ăn dạn. Đôi khi lúc này không thấy dây, chỉ cần thả mồi đúng chỗ rồi giật quàng xiên cũng dính cá!

Con cá đẻ thường "to biết hát". Một buổi có thể kiếm năm bảy con, mỗi con cả ký lô, bèo nhất cũng tám chín lạng. Năm rồi, đống chà cặp Sông Hậu, Anh Hai tôi bị một em làm lưỡi câu đúc 14 "ngay đơ". Hai hôm sau, cũng đám chà đó, khi dây câu se se khựng nước, tôi vỗ một cái, trên lưỡi câu chỉ tòn teng một miếng vảy to bằng đồng 1 đồng nhôm thời năm tám mấy. Không biết "con quỷ" này bao lớn mà nói!

Con cá mè dinh câu về có thể rộng lại dưới sông hoặc làm thịt ngay. Nếu nướng hay chiên tươi (người Sài Gòn gọi là chiên xù) thì chỉ cần móc lấy mật. Nếu cá ngợp hay chết thì có thể đánh vảy, xẻ khứa và muối để chiên ăn dần. Món chiên tươi là hết chê vì vảy vi con cá vàng ruộm, giòn tan, béo ngậy mà thịt ngọt mềm. Con cá nướng thì "thơm phưng phứt".  Nhưng tôi khoái nhứt là món cá mè lứa dinh kho lạt, để vẩy ăn với rau ghém và cơm nóng. Cá mè dinh kho lạt mổ bụng giống chiên tươi. Lót cùi khóm (thơm) hay mía lau chẻ tư xuống đáy nồi. Cá ướp gia vị cho thấm rồi xếp vào nồi, đổ nước mắm xâm xấp, đun lửa nhỏ, vớt bọt liên tục và trở cá cho chín đều. Bỏ thêm vài lát thơm, ớt quả, nêm nếm lại đợi sôi lên rồi tắt lửa, nhấc xuống. Cơm nóng, dưa leo, rau xanh và đặt biệt là một dĩa chanh tươi cắt sẳn với một dĩa nước mắm sống thật nhiều ớt thì còn gì bằng.

Mấy hôm nay, ra chợ thấy mấy con cá mè dinh nhảy soi sói mà nhớ con cá quê mình. lũ năm nay ít quá, cá cũng ít theo. Không biết tháng Tư năm nay có về câu được con mè dinh đẻ nào nữa không?

Chú thích:
(*) Cá mè dinh: Cá mè vinh, cá trà vinh theo cách nói của người miền Tây. Tác giả sử dụng toàn bài theo cách gọi này.
Đoàn Nhật Trung

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

Cuộc chiến giữa chủ hồ và người câu cá.

ĐNT
Nhân đọc bài này trên Việt Báo, thấy bài viết còn nhiều phiến diện, phản ánh chỉ một phần quá nhỏ. Dù kinh nghiêm câu kéo cũng chưa chắc hơn ai nhưng từ trải nghiệm bản thân, tôi muốn xem xét "cuộc chiến" này dưới góc độ khách quan hơn. Nếu có đụng chạm, mong anh em "bị trời đày" lượng thứ.

Mấy năm gần đây, phong trào câu cá giải trí rộ lên khắp nơi, từ Nam ra Băc. Ngay cả xứ miệt vườn như Cần Thơ, Vĩnh Long cũng có hồ câu cá giải trí. Có cầu ắt có cung tuy nhiên trong lĩnh vực này ẩn chứa nhiều xung đột giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ. Cho nên, để “thắng” được trong lĩnh vực này không phải là điều đơn giản. Và lý thuyết win- win quá mong manh khi áp dụng vào việc cung cấp dịch vụ này.
Đây là cuộc chiến không cân sức giữa "Chủ Hồ" và "Người Câu Cá" mà phần thua chắc chắn ở Người Câu Cá dù Chủ Hồ chẳng cần mánh khóe nào. Những trò thả dây điện, kéo cá ban đêm để sáng thả lại, dùng khí đá sục hồ, dùng hóa chất thay đổi môi trường nước...xem ra không cần thiết phải giở ra vì vừa tốn kém, cực khổ, lộ liễu không cần thiết đối với nhiều tay câu. Tại sao vậy?
Thông thường người câu muốn khoắng hết cá của chủ hồ nhưng thực tế người có khả năng này rất ít. Đa phần người đi câu còn lại là ...võ biền, "lực bất tòng tâm" vì cứ nghĩ mồi mình ngon mà sao cá không ăn, hay chủ hổ nó chơi chiêu gì đây? Hôm qua mình câu cá ăn quá mà sao hôm nay lại im re? Họ đổ thừa hoàn cảnh là chính mà không chịu xem xét lại.
Chủ hồ, đó là yếu tố không thể thay thế được và không nhiều. Chủ hồ có thể là người tốt hay người xấu (1), chịu chơi dám thả cá hay không (2); Hồ thì rộng hay hẹp (3) cạn hay sâu (4) nước có vô ra hay không?(5) Có cho cá ăn hay không (6)….Những yếu tố kể trên đây, người câu cá ít khi tác động làm thay đổi được.
Ngược lại, Người Câu cá có nhiều yếu tố phải tự mình khống chế được mới trở thành cao thủ được. Có ba thành tố chính: Người, Cần câu và hiểu biết của người câu về con cá.
Người đi câu sát cá hay không là do chính bản thân họ. Họ đến một hồ câu trong ngày nào (7), giờ nào (8), Mưa nắng hay râm (9); Vào hồ rồi thì phải chọn diểm câu chỗ nào ngon nhất (10), chọn câu tầng nước nào (11). Khi cá ăn người đi câu có giật đúng thời điểm (12), giật đúng kỹ thuật (13). Bấy nhiêu nghe đã đủ mệt huống chi đi câu còn phụ thuộc vào bản tính của người đi câu nữa. Thường người trầm tĩnh câu được nhiều cá hơn người bộp chộp, ồn ào.
Nhưng chưa đâu. Bây giờ đến cần câu và những thứ liên quan. Cần câu phù hợp với cách câu hay chưa (14), dây câu phù hợp với cần và máy chưa (15), dây câu nhỏ hay lớn (16), câu có chì hay không chì (17), chì nặng hay nhẹ (18), chì treo hay chì chạy (19), câu phao thì canh chì phao đúng chưa (20). Tiếp đến là lưỡi câu. Lưỡi câu mình đang câu có vừa miệng con cá chưa (21) Lưỡi câu và dây câu có tuân theo tỉ lệ chuẩn chưa (22), Lưỡi câu tóm có đúng kỹ thuật hay không (23) (như vị trí của dây câu so với đốc câu, dây câu dư ở lưỡi câu…). Tới đây là tới cái phần rắc rối, nhiêu khê và tốn kém nhất. Đó là mồi câu. Nào là chọn mồi gì (24), trộn với gì (25), ủ bao lâu (26),xả mồi gì, xả thế nào (27)….
Người đi câu cũng có những kiến thức và nhận định có cơ sở minh chứng. Họ cũng phải biết hồ có cá gì (28) mật độ nhiều hay ít (29), Cá mới hay cá bể (30), thường được cho ăn gì (31), mật độ cá khác cùng hồ (32), trong hồ thường ăn giờ nào (33)….
Kể sơ sơ thôi chứ tôi không dám đi vào chi tiết vì không dám múa rìu qua mắt …xưởng thợ được. Với 33 yếu tố kể trên, ngoài 6 yếu tố không thể cải thiện được, người câu cá phải đối diện với ít nhất gần 30 vấn đề của chính mình. Mỗi vấn đề có hai hướng giải quyết đúng và sai. Vị chi có 27 khả năng xảy ra và để muốn bắt được con cá thì người câu cá phải giải quyết "đúng" toàn bộ ít nhất 27 khả năng này. Nói như thế mới thấy được để trở thành một cao thủ câu chỉ một loại hình câu hay một loại cá nào đó thì cái giá phải trả đến mức nào. Các đại cao thủ vẫn là đại cao thủ dù trong bất kỳ hồ cá nào. Các cao thủ thể hiện tinh thần “phong độ nhất thời, đẳng cấp vĩnh viễn” là ở chỗ này. Dù bất kỳ điều kiện nào, cao thủ vẫn có thể ít nhất "gỡ gạc" được. Và chẳng may hôm nào ra quân thất thủ thì họ vẫn tin tường ngày mai “con cá này mày phải chết với ông”.
Bất kỳ người câu cá nào cũng có thể trở thành cao thủ nếu thật sự tìm hiểu tường tận về thú vui tao nhã này hơn là luôn miệng đổ thừa hoàn cảnh hay đổ thừa tại chủ hồ… xử lý hồ. Ngược lại, Chủ hồ chằng cần động móng tay, các cần thủ lơ tơ mơ cũng "chết dài dài" vì sự cố chấp của chính mình mà không chịu "lắng nghe và thấu hiểu"... con cá. Cái đó người ta gọi là "nặng bóng vía".

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

Chuyện đồng quê- Trần Văn

DNT- Tôi không quan tâm ông Trần Văn xuất thân hay quá khứ như thế nào. Tôi chỉ thấy giữa mình và tác giả có nhiều điểm tương đồng. Đó là viết về quê hương mình một cách mộc mạc, chân tình với tình yêu da diết và bằng trải nghiệm của bản thân mình. Đó cũng là mục tiêu khi tôi viết blog này. Có điểm khác hơn một chút là tôi sẽ quay cả về quá khứ xưa hơn lẫn nhịp thở hằng ngày của đồng bằng hiện nay và viết thêm nhiều thứ hơn nhưng...dở hơn. Thêm vào đó, do khác biệt về địa lý dù đều là người Miền Tây nên với mọi sự kiện, sự vật chắc chắn sẽ đa dạng. Tôi xin mạn phép tác giả Trần Văn đưa ác phẩm của Ông vào blog của mình với tất cả sự trân trọng.

Tiểu sử tác giả
Lời bộc bạch của tác giả


      Chuyện Đồng Quê, những chuyện thật với những con người thật ở đồng quê, nơi chôn nhau cắt rún của tác giả.
      Ấp Bà Bài, một ấp nằm sát biên giới Miên Việt, thuộc xã Vĩnh Nguơn, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc, nay là tỉnh An Giang ở miền Tây Nam Bộ. Một ấp nhỏ có chưa đến hai trăm nóc gia; người dân hiền hòa chất phác và đa số mù chữ, nhưng tấm lòng của họ ngời sáng : Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
      Câu chuyện đồng quê dưới đây được viết lại qua trí nhớ, bối cảnh từ sau năm 1940, những năm thanh bình êm ả (1940-1945).
      Sau nầy, tác giả thỉnh thoảng có dịp trở về quê ấp Bà Bài khi là giáo viên ở tỉnh lỵ Châu Đốc, hiệu trưởng trường sơ tiểu Vĩnh Tế (Bến Đá Núi Sam), giáo sư trung học ở Sài Gòn, Biên Hòa, Dĩ An, Thủ Đức. Thời gian phục vụ trong quân đội ở miền Tây, từ đầu năm 1963 đến cuối năm 1969, tác giả đi đây đó nhiều nơi nhiều chỗ khắp chín mươi hai quận của mười sáu tỉnh miền Tây trong nhiệm vụ sĩ quan báo chí, phát thanh của Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật. Đây là cơ hội tốt, hòa mình với bà con nông thôn và đặc biệt bà con họ hàng ở Châu Đốc, học hỏi được nhiều điều hay, thưởng thức được thêm nhiều món ăn độc đáo đặc sản của từng vùng ở nông thôn mà thị dân ít hoặc chưa từng biết đến. Về các thú tiêu khiển, từ xa xưa, người nông dân có nhiều thú chơi rất lạ đáng ghi nhận, có khi vừa giải trí vừa bồi bổ sức khỏe và đôi khi còn lãng mạn...Trong tập chuyện nầy, tác giả xin gởi đến bà con độc giả những điều mắt thấy tai nghe, ghi lại một cách trung thực. Đôi lúc, đôi chỗ cũng không tránh khỏi việc "dậm mắm dậm muối" cho câu chuyện thêm đậm đà.
      Độc giả có thể xem đây như là một bút ký, ký sự, phóng sự, hồi ký, truyện dài bất tận, hay những truyện ngắn ráp nối lại. Độc giả cũng có thể coi như là một tập sách chuyên khảo một số món ăn ở thôn dã của miền Nam.
      Những lời nói, cách phát biểu thoải mái của người nông dân chân chất Nam Bộ, nghĩ sao nói vậy. Vì thế, cách hành văn của tác giả rất bình dị, không chải chuốt văn chương hoa mỹ. Nghe sao, nghĩ sao, nhớ cái gì ghi lại y chang như vậy.

                       *****

     Cuộc sống của con người quả thật có nhiều phức tạp trải dài từng chặng đường với nhiều thử thách, khó khăn, vui ít buồn nhiều, lo lắng bâng khuâng cũng lắm.  Kỷ niệm trong đời người qua va chạm về tình, tiền, danh, nghiệp.  Còn nữa, địa phương, phong thổ, tập quán, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, ăn uống, tiêu khiển, thói quen... cũng có nhiều khác biệt.  Nhiều kỷ niệm, vấn nạn, suy tư mà trong ký ức chúng ta không quên và sẽ không bao giờ quên cho đến ngày ra đi về bên kia thế giới.

     Tất cả những thứ đó tạo thành một con người hiện hữu, một con người đích thực không chối bỏ cội nguồn.  Tác giả nhận thức rõ nguồn gốc, xuất xứ và một quá khứ ấu thơ ở chốn quê mùa khỉ ho cò gáy của mình.  Từ tấm bé, được trui rèn thử thách, chịu đựng chống chọi với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên.  Tính bất khuất và luôn vươn lên ăn sâu trong tâm khảm của người dân quê mà tác giả đã hấp thụ. Bây giờ có ai hỏi: với tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, vật chất đầy đủ bảo đảm cuộc sống an nhàn, chắc chắn cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời, tác giả có muốn về sống ở Việt Nam không ? Tác giả thành thật, mau mắn và dứt khoát xin thưa :
     Tác giả sẽ rời bỏ đất Mỹ xa hoa, tiện nghi giàu có nầy không luyến tiếc khi điều kiện cho phép trở về quê hương Việt Nam thân yêu.

     Quê tôi dù thiếu thốn nghèo khổ, với hai mùa khô, nước, nhưng nơi đây đất lành chim đậu, người dân chân chất hiền hòa, luôn tương trợ giúp đỡ nhau, không bon chen, ganh ghét, hãm hại nhau.  Quê hương là chùm khế ngọt vậy đó. Quê tôi có những cái đặc biệt do Trời Đất ban tặng mà các nơi khác ít có hoặc không có.

     Mời quý độc giả đọc "Chuyện Đồng Quê" để có cái nhìn sâu sát về đồng quê miền Tây nói chung và ấp Bà Bài nói riêng, cũng như các miền khác của đất nước.

     Độc giả sẽ bắt gặp những cách bắt cá, rùa, rắn, lươn, chuột... những món ăn độc đáo, thú tiêu khiển thanh tao và cũng kỳ cục mà tác giả là chứng nhân, là người trong cuộc. Trong Chuyện Đồng Quê, tác giả gói ghém tất cả tâm tình thân thương của quê hương, một câu chuyện dài bất tận nhớ đời. Với ngòi bút hạn chế, sự hiểu biết, tầm nhìn hạn hẹp, tác giả  xin  cố gắng  ghi lại thật nhiều chuyện đồng quê để nói lên tâm sự sâu kín của một người Việt Nam luôn hướng về quê hương, cội nguồn dân tộc.

     Xin quý vị độc giả thông cảm  và tha thứ cho những sự sai sót của tập sách nầy. "Chuyện Đồng Quê" đến được quý độc giả là do sự thôi thúc của bạn bè, độc giả của nhiều tờ báo.  Từ cuối năm 1997, tác giả khởi sự viết mãi cho đến tháng 6 năm 1999 mới hoàn tất. 

Sacramento, mùa thu 99 cuối thế kỷ 20
Trần Văn



_________________________________



Thành thật cám ơn :

- Giáo sư Đỗ Bá Khê với lời giới thiệu.
- Nhà báo Tô Ngọc với lời bạt
  và trình bày tập truyện (Mpax Graphics)
- Nhiếp ảnh gia Nguyễn Phước Tường 
  với những bức ảnh đồng quê Miền Tây,
  (trong đó có ảnh dòng sông An Giang, chụp từ 1970)


LỜI GIỚI THIỆU... ĐỒNG QUÊ

     Xã  hội Việt Nam nặng về nông nghiệp.  Ngược dòng thời gian, gần hoặc xa, người Việt nào cũng tìm được nguồn gốc đồng quê của mình.  Đã sinh kế, lập nghiệp ở thành thị, người Sài Gòn vẫn nhớ đồng quê, thích ra ngoại ô để thưởng thức không khí trong lành và nhắm những món ăn đồng quê, như cá lóc nướng trui của quán Ba Râu ở Phú Lâm, cháo lòng Chợ Đệm, gà nướng lưỡi cuốc và canh chua lá vang cầu Bình Lợi, cá hấp Biên Hòa, nem Lái Thiêu, gà xối mỡ suối Lồ Ồ, tôm càng nướng Tân Thuận, gỏi cá chìa vôi Nhà Bè v.v...

     Định cư nơi đất khách, nhiều người không mất cái tâm tư đồng quê ấy.  Nhớ câu "bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu", họ biến mảnh đất nhỏ quanh nhà thành rãnh rau, giồng khoai, líp mía để có đặc chất tăng thêm hương vị đồng quê cho các thức ăn hằng ngày.  Có người trồng các cây ăn trái ưa thích như sa-bô-chê (sapotier), ổi xá lỵ Mỹ Thuận, bưởi Biên Hòa, chuối xiêm v.v... .  Mua giống rất đắc, nhưng lắm lúc không thâu  hoạch  được bao nhiêu và hương vị hoa quả cũng phai lạt đi vì khí hậu không thích ứng.

     Tôi vốn là người đồng quê.  Lớn lên ở đồng quê, tôi đã thật sự làm ruộng, làm vườn, làm mắm, lái ghe rộng bán cá sống.  Mỗi khi bãi trường tôi về đến nhà là Má tôi biểu giặt sạch các bộ đồng phục bà ba trắng cất kỷ vào rương, rồi lấy quần áo cũ (rách vá nhiều lớp) bận để đi làm việc đồng áng.  Tôi đã giữ trâu, đứng bừa, đứng trục, giở chà, bao đăng, tháo ụ, đặt trúm bắt lươn, soi ếch, thăm nò, lặn bắt ốc gạo, cắm câu, lưới dơi, đuổi chim mùa lúa chín, bơi xuồng đâm chuột mùa nước nổi.
     Một lý do mà tác giả nhờ tôi có mấy lời giới thiệu là vì cái thẹo cá trê chém trên ngón tay tôi.  Số là... nhơn dịp lễ Phục Sinh năm 1942 tôi theo làm mắm với Má tôi.  Vì mùi mắm, ngày thì ruồi bu đầy mặt, đêm thì dòi bò tận miệng nóp.  Cá nhiều nhờ Ba tôi tháo đập.  Phần lớn cá trôi theo dòng nước cuốn về mặt đập và bị vớt lên bắt sống.  Tôi phụ kiểm soát cá lội ngược, cá còn sót từ ngọn đập đã cạn nước.  Lội bùn, bò trước đoàn con hôi (người bắt cá sót), tôi gặp một con cá trê quá lớn.  Để khắc phục, tôi cố sức nhận đầu nó xuống bùn, lừa hai ngạnh của nó để khóa chặt giữa các ngón tay trái, và lần kéo cá lên khỏi bùn.  Nhưng nó vùng vẫy quá sức tôi, ngạnh bén chém ngón tay giữa, lòi mỡ chảy máu, bùn non nhét vào làm độc, phải nằm nhà thương Chợ Rẫy hai tuần (năm 1942, giữa Thế Chiến Thứ Hai). Việt Nam chưa có thuốc trụ sinh nên vết độc lâu lành; hiện nay tôi còn mang thẹo dài lối 2 cm.  Kỳ thi tú tài Pháp trong tháng sáu gần kề.  Tôi phải đem sách vỡ vào nhà thương để học bù mấy ngày vắng mặt, và dọn thi.  Đáng sợ là kỳ đó, giám khảo môn Pháp văn là thạc sĩ văn phạm (agrégé de grammaire) đầu tiên của Việt Nam là thạc sĩ P.D.K., tác giả của quyển "Légende des Terres Sereines".  Ông có tiếng phê điểm rất gắt, đánh rớt nhiều thí sinh xuất sắc trong các khóa trước, nên được cái biệt danh là Đao Phủ Thủ của thí sinh (Bourreau des Candidats) - điểm loại là 6/10, mà không bao giờ ông phê quá 10/20.  Thật là học tài thi mạng. (Nghe nói, trong những ngày tàn của thực dân, có lần ông thạc sĩ bị chận đánh rớt xuống hồ Hoàn Kiếm).
Nay được đọc Chuyện Đồng Quê của Trần Văn, tôi rất thích thú hồi tưởng lại cái thiếu thời đồng quê của tôi.  Tác giả gốc ở Châu Đốc, nên kể nhiều chuyện ở quanh vùng kinh Vĩnh Tế, núi Thất Sơn và Hậu Giang.  Tôi học của tác giả các thú giăng câu trời, đập chim ngủ đêm, câu cá he, chuyện tình dang dở cá leo, nằm tum đâm cá bông, gỏi sầu đâu, mắm cá trèn... 
Tôi được đọc thêm ở nơi khác các món : mắm kho bông súng Đồng Tháp, mắm cồng và mắm tôm chà Gò Công, hủ tíu Mỹ Tho, bánh giá chợ Giồng Định (Định Tường), cá cháy kho rim Trà Ôn.  Đủ biết là món ăn đồng quê tận dụng thổ sản, phong phú dường nào.
     Có một lúc tôi trôi dạt về núi Châu Đốc, nên chuyện Thất Sơn của tác giả càng thắm thía đối với tôi.  Tôi có đi mua sỉ thổ sản ở các sóc người Miên buổi chiều, để đem ra bán lẻ ở chợ Ba Chúc buổi sáng.  Tôi lên rừng bứt mây về thắt giống, chuốt tre đan rổ, leo cây thốt nốt lấy mật, lên xuống đường dốc cong queo, gánh nước suối với cặp cà om (thay vì thùng thiếc như ở đồng bằng).  Cà om là loại nồi đất đựng nước của người Miên, khi lở đụng bể một cái ở đầu nầy thì cái ở đầu kia cũng rớt bể theo luôn.  Vì đường dài, để mau về tới nhà, tôi từng trở vai không ngừng, nghĩa là vừa đi vừa quay trở đòn gánh từ vai nầy sang vai kia, không thua các cô gái núi.  Tôi biết qua đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Thầy Tây An và chùa Long Châu.  Tôi có viếng một số đạo sĩ ẩn náo nơi hẻo lánh trên núi.

     Tác giả làm cho tôi sống lại quãng đời cần cù nơi đồng quê, nhọc xác nhưng khỏe tâm.  Đặc điểm của tập ký ức nầy là các câu chuyện độc đáo, lời văn hồn nhiên, gọn ghẻ, thành thật, không cầu kỳ, như  đê ø giữ  trọn tánh  cách mộc mạc của nông dân trong các sinh hoạt vất vả hằng ngày, các phong tục tập quán địa phương, các thú vui giản dị tùy mùa, và nhứt là các thức ăn đặc sản với phẩm chất và hương vị thanh khiết khó tìm lại được.

     Biến cố 1975 là cơn bão lốc, làm cho ta bị trốc gốc, phiêu dạt nơi đất lạ.  Nhưng ta không mất gốc.  Đọc chuyện của Trần Văn để nhớ lại đồng quê, một phần nhỏ của quê hương mà hình ảnh vẫn còn in sâu vào lòng người viễn xứ.

Đỗ Bá Khê
Thu 1999

(Lời nhà xuất bản : Tiến sĩ Đỗ Bá Khê, Cựu Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa - Cựu Khoa Trưởng Khoa Học Trường American River CollegeSacramentoNay đã về hưu ở Sacramento).


(Còn tiếp)
Nguồn: thatsonchaudoc.com





Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

Vài kiểu bắt cá khi nước giựt

Nước giựt là mùa cá ra. Đó là vào khoảng từ mồng Sáu, Bảy, Tám tháng Mười âl trở đi. Lúc này cá nhiều vô kể. Và qua đó, phương cách bắt cá cũng tùy theo khả năng của từng người, từng gia đinh. Bài này chưa hoàn chỉnh, tôi sẽ sửa chữa trong các lần "tái bản" sau này. Xin lượng thứ!


Nơm cá


Giăng lưới










Nhiễm dioxin và bằng chứng trước tòa

Nhân vụ kiện về dioxin, tôi đã viết bài này và được đăng tại báo Thanh Niên vào ngày 21/03/2008
 
Phán quyết của Tòa án liên bang Mỹ (liên quan đến vụ kiện của các nạn nhân chất độc dioxin Việt Nam) gây bất bình trong lòng những người ủng hộ các nạn nhân chất độc da cam. Hàng ngàn số phận đang chịu những bất công. Tuy nhiên, có thể nói, chúng ta còn thiếu yếu tố then chốt để buộc tội các công ty sản xuất, buôn bán dioxin.

Chúng ta đã có nhiều bằng chứng khi khởi kiện nhưng chưa đủ mạnh. Y văn thế giới đã ghi nhận, tổng kết và xác định rõ tác hại của dioxin trên súc vật và người. Trong chiến tranh, quân đội Mỹ đã rải hàng chục triệu lít chất độc màu da cam và thuốc diệt cỏ khác tại Việt Nam và chiến trường Đông Dương. Hiện nay, khi khảo sát tại các sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, nồng độ dioxin trong đất cao hàng trăm lần mức cho phép. Sự kiện các cựu binh Mỹ đòi bồi thường và được đáp ứng càng củng cố lòng tin giành lại công lý cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Nhưng Tòa án liên bang Mỹ đã tạt một gáo nước lạnh vào lòng nhiệt tình của nhưng người ủng hộ và các tổ chức tự nguyện hay có trách nhiệm liên quan, vì các bằng chứng này chưa đủ sức thuyết phục các quan tòa.

Dù có dữ kiện các nạn nhân từng sống, tiếp xúc với dioxin, không phải tất cả những người có biểu hiện giống nhiễm chất độc màu da cam là hoàn toàn do chất độc này, mà còn có thể do nhiều nguyên nhân khác. Cho nên, tấm lòng và công sức của hàng triệu người, hàng trăm tổ chức trong ngoài nước cùng với hàng tỷ đồng đã trở nên vô nghĩa. Chúng ta cần có những nạn nhân cụ thể với những bằng chứng khoa học rõ ràng, có yếu tố phơi nhiễm và đã chịu những ảnh hưởng chắc chắn từ dioxin.

Theo một chuyên gia uy tín hàng đầu tại TP.HCM về sinh học phân tử, tác động của dioxin gây ra các di chứng trên các nạn nhân nhiễm độc bằng việc thay đổi một cặp bazơ Nucleotit trong một acid amin của bộ gen người nhiễm. Đây là đột biến gen di truyền do hóa chất đã được xác định. Việc tìm ra các đột biến này ở các nạn nhân sẽ là bằng chứng khoa học chính xác. Cùng với việc lập bản đồ gen người và khảo sát bộ gen dần trở nên dễ dàng như hiện nay, chúng ta có thể kêu gọi sự hỗ trợ từ các quốc gia và các trung tâm sinh học phân tử trên thế giới, như: Anh, Pháp, Australia, Ấn Độ…, thậm chí từ Mỹ.

Không thể kêu gọi lương tri hay lòng trắc ẩn của các quan tòa khi không đủ bằng chứng vì họ có thể “thương thì được, không thương thì thua”. Chúng ta cũng không thể buộc tội chung chung, mơ hồ các công ty hóa chất Mỹ để họ phải chịu trách nhiệm cho dù có kháng cáo hàng chục lần.

Ra tòa là phải có bằng chứng. Bằng chứng là các nạn nhân có phơi nhiễm với dioxin, có các biểu hiện bên ngoài giống nhiễm chất độc da cam và tiên quyết là có thay đổi bộ gen được công nhận do dioxin. Đó là con đường giành lại công bằng cho hàng ngàn số phận đau khổ vì nhiễm độc dioxin thật sự.

DNT
http://www.thanhnien.com.vn/News/0108/Pages/200812/231217.aspx